Xem: 3536|Trả lời: 1
Thu gọn cột thông tin

Từ chỉ số cạnh tranh và ICOR, nghĩ về hiệu quả gói kích cầu

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 18-10-2009 10:09 AM | Xem tất |Chế độ đọc

Mời bạn đăng ký để giao lưu kết bạn nhé <3

Bạn phải đăng nhập để xem được nội dung, nếu bạn chưa có tài khoản? hãy Đăng ký

x
Thời gian vừa qua, đã có nhiều ý kiến khác nhau về hiệu quả của gói kích cầu 8 tỉ USD nhằm vực dậy nền kinh tế nước ta, cũng như những dự đoán về tính khả thi của gói kích cầu thứ hai sẽ được quyết định vào cuối tháng này. Câu hỏi đặt ra là hiệu quả của những biện pháp "cứu trợ" này đến đâu?


Tuy nhiên, cần lưu ý rằng rất khó để đo được chính xác hiệu ứng của bất kỳ gói kích cầu nào, vì ngay cả ở Mỹ với hệ thống thông tin minh bạch và chặt chẽ từ nhiều năm qua cũng vấp phải nhiều trở ngại khi đo lường hiệu ứng kích cầu - huống hồ là ta.
Trong điều kiện đó, việc xem xét xu hướng tăng hay giảm của những chỉ số quan trọng như chỉ số ICOR, chỉ số cạnh tranh... trở thành căn cứ tương đối chính xác để đo lường hiệu ứng về mặt trung và dài hạn của gói kích cầu.


                               
Đăng nhập/Đăng ký mở rộng


Đừng lơ là chỉ số cạnh tranh và ICOR
Chỉ số ICOR đo lường hiệu quả đầu tư, tính trên lượng vốn cần tăng thêm để đạt mức gia tăng một đơn vị sản lượng. ICOR càng cao thì hiệu suất này càng thấp. Chỉ số này đã leo lên một mức thang mới trong khoảng một năm qua khi Chính phủ tăng cường các nguồn vốn đầu tư nhằm chống suy giảm kinh tế.
Vào đầu tháng 10, tại phiên họp toàn thể của Ủy ban Tài chính và ngân sách của Quốc hội, chỉ số ICOR năm 2009 đã được báo cáo lên đến 8 - mức cao nhất từ trước đến nay (ICOR năm 2008 ở mức 6,66). Điều này đồng nghĩa với hiệu suất đầu tư của Việt Nam đã giảm hẳn 20%. Nếu so sánh chỉ số ICOR 8 hiện nay của Việt Nam so với mức 5 của Thái Lan thì sẽ thấy hiệu suất kinh tế của nước bạn gần gấp đôi nước ta (cụ thể, chúng ta phải đầu tư gấp đôi mức Thái Lan đầu tư thì mới mong có mức tăng trưởng ngang nhau).
Nói như thế để thấy chỉ số ICOR tuy không thể đo lường một cách chính xác nhưng vẫn có giá trị tương đối rõ ràng để so sánh hiệu suất kinh tế của ta với các nước bạn, hoặc để so sánh nội lực kinh tế của chính ta qua từng năm.
Song song với việc chỉ số ICOR tăng thì chỉ số cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam trong năm 2009 đã tụt năm bậc (từ 70 xuống 75) dựa theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF). So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng sau khá xa so với Singapore (3), Thái Lan (36)...
Trong số 133 đất nước được WEF đưa ra đánh giá, chỉ số thuộc loại thấp nhất của Việt Nam gồm có chất lượng cơ sở hạ tầng (111/133), chất lượng đường sá (102/133), chất lượng cung cấp điện (103/133), thâm hụt ngân sách (103/133), chi phí cho giáo dục cơ sở (103/133), chất lượng các trường đào tạo về quản lý (111/133), thời gian để bắt đầu doanh nghiệp mới (111/133), hàng rào thuế quan (126/133), khả năng bảo vệ nhà đầu tư (126/133)...
Mặt khác, trong khi chỉ số cạnh tranh và ICOR đều đang ở mức không mấy lạc quan thì GDP của nước ta vẫn giữ mức tăng trưởng tốt. Lý giải cho điều này, có thể thấy việc tăng cường nguồn lực đầu tư, triển khai các gói kích cầu đã có một số tác dụng hỗ trợ nhất định, khiến nền kinh tế không bị suy giảm mạnh, nhờ đó giữ được mức tăng trưởng khá cho dù tình hình chung của các nước khác đều tăng trưởng âm. Nhưng vấn đề đáng quan tâm hơn là mức tăng trưởng này có đồng nghĩa với việc nội lực của nền kinh tế sẽ được củng cố để duy trì và phát triển sau khủng hoảng hay không?
Chúng ta đã đầu tư một khoản tiền rất lớn để cứu vãn tình thế trước mắt, nhưng lại không nhìn trước những hệ quả sẽ phát sinh trong tương lai gần. Nội lực của đất nước không tăng lên nhờ gói kích cầu vì hệ quả thấy được là chỉ số cạnh tranh và ICOR đã trở nên xấu hơn. Tương tự như một bệnh nhân đang trong cơn hiểm nghèo được tẩm bổ nhưng không theo bài dinh dưỡng hợp lý để vừa dùng đúng thuốc, chữa đúng bệnh.
Vì thiếu tính toán, lơ là trong điều trị nên dẫn đến hiệu ứng phụ, tác dụng ngược của thuốc. Hậu quả là bệnh nhân có tăng ký nhưng đó không phải là dấu hiệu hồi phục khỏe mạnh, mà là hiện tượng béo phì sẽ gây ra dư thừa mỡ trong máu, ù lì, chậm chạp hơn... Thế nên mức tăng GDP 5% nhờ gói kích cầu, tuy đã có một số tác động ổn định xã hội, nhưng đã gián tiếp đẩy chỉ số ICOR của Việt Nam leo thang đến mức nguy hiểm và giảm đi sức cạnh tranh. Vậy vấn đề của gói kích cầu trong thời gian qua nằm ở đâu?
Nhìn nhận lại gói kích cầu
Những tháng cuối năm 2008, chúng ta đã nhanh chóng siết chặt tín dụng nhằm kìm hãm lạm phát, cũng như cắt giảm một số khoản đầu tư công có hiệu quả thấp. Tuy nhiên, nhìn lại gói kích cầu từ đầu năm đến nay, lại có đến gần 80 ngàn tỉ đồng đã được đầu tư vào các dự án công - gần bằng tổng đầu tư của cả năm ngoái! Con số này vượt xa nhiều khoản tiền hỗ trợ lãi suất (chỉ được có gần 17 ngàn tỉ) nhưng mang lại hiệu quả chẳng bao nhiêu.
Gần đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng lượng đầu tư này quá dàn trải, thiếu tính toán nên dẫn đến "hậu quả là lãng phí vốn đầu tư, làm giảm hiệu quả đầu tư và thậm chí không còn đạt hiệu quả đầu tư như mục tiêu đặt ra". Khi một thành phần kinh tế đầu tư không hiệu quả mà còn được ưu ái nhận thêm hỗ trợ, tất yếu sẽ dẫn đến "căn bệnh" suy thoái thêm trầm trọng.


                               
Đăng nhập/Đăng ký mở rộng

Giả dụ một phần nhỏ của tổng gói kích cầu được rót vào những công ty không có khả năng phục hồi thì khoản tiền đó sẽ trở thành những "món nợ" xấu, có nguy cơ mất trắng. Điều này sẽ tác động trực tiếp đến toàn nền kinh tế nói chung và cụ thể nhất, ảnh hưởng nặng nề lên hệ thống tài chính ngân hàng.
Từ đó, đặt ra hai vấn đề cần được giải quyết triệt để và kịp thời. Đó là nhu cầu tái cấu trúc và những biện pháp kích cầu thật sự đúng chỗ, đúng mức, đúng tầm. Trước mắt, cần cải thiện cơ sở hạ tầng về vật chất, xã hội, giáo dục, y tế..., hệ thống pháp lý và hành chính. Đặc biệt, hệ thống hành chính cần được tái cấu trúc đầu tiên, bởi đây là lĩnh vực không đòi hỏi đầu tư cao nhưng mang về hiệu quả tức thời, qua đó làm tăng tính cạnh tranh, thu hút đầu tư cũng như phát triển hiệu quả đầu tư một cách nhanh nhất. Vấn đề tái cấu trúc này hoàn toàn nằm trong tầm tay chúng ta, có thể triển khai ngay.
Vấn đề thứ hai liên quan đến gói kích cầu. Có thể thấy gói kích cầu thứ nhất trong thời gian qua thực chất là một biện pháp nhằm kích cung vì thông qua những biện pháp hỗ trợ, đầu tư vào doanh nghiệp để kích thích tiêu dùng. Kích cung sao cho hiệu quả luôn là một bài toán khó: kích cung nào, ở đâu, khi nào và làm sao thực sự biết được bao nhiêu cầu được kích?
Mặt khác, kích cung một phần cũng chỉ giúp được kích cầu tăng lên một tỷ lệ nhỏ. Để kích cầu đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, công bằng nhất và nhanh nhất thì phải hướng trực diện đến thị trường và kích cầu thật sự, đồng loạt, không phân biệt đối tượng kinh tế. Những biện pháp kích cầu hữu hiệu như giảm giá xăng dầu, thuế tiêu dùng, giá điện nước... thật sự cần thiết để hỗ trợ cho người tiêu dùng, qua đó sẽ góp phần thúc đẩy chỉ số cung trong toàn nền kinh tế. Cầu thực sẽ kích cung thực.
Song song đó, cần nỗ lực hơn nữa trong tái cấu trúc nền kinh tế nước nhà. Tình hình kinh tế của thế giới vẫn còn rất bấp bênh nên đừng lạc quan quá mức vào sự khởi sắc của năm 2010 có thể giúp chúng ta vượt khỏi giai đoạn hiểm nghèo. Mỹ là kinh tế đầu tàu có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến sự hồi phục của kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam, nhưng họ đang còn phải đối đầu với nhiều khó khăn.
Trước mắt là tỷ lệ thất nghiệp đã lên đến mức 10% và vẫn còn tăng, ảnh hưởng đến mức tiêu dùng của người dân Mỹ (đến 70% của GDP). Ngoài ra, họ chưa giải quyết được những rủi ro nợ xấu của nhiều ngân hàng. Với tình hình này Mỹ cần ít nhất ba đến năm năm nữa để phục hồi trở lại thời điểm như năm 2006.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có gói kích cầu 675 tỉ USD như một liều thuốc khỏe cầm chừng cho người bệnh chứ không thể trị dứt bệnh. Sự sôi động của thị trường chứng khoán và bất động sản Trung Quốc trong thời gian qua phần lớn là ảo, nhờ các biện pháp kích cầu có tính tình thế. Trong một thời gian ngắn sắp tới, "bong bóng" nhà đất và chứng khoán của Trung Quốc có thể vỡ mạnh. Tất cả các yếu tố này đang tạo nên một sự bất ổn khó lường trước được cho nền kinh tế toàn cầu.
Dù chúng ta có thể kỳ vọng vào những tín hiệu lạc quan, nhưng cũng phải chuẩn bị cho những tình huống xấu nhất, để khi kinh tế thế giới có tăng giảm thế nào thì Việt Nam cũng có sự đối phó kịp thời. Chúng ta đã biết rõ mình phải làm gì trong thời buổi suy thoái này, quan trọng nhất vẫn là cần có đủ ý chí, sự quyết tâm và bản lĩnh để hoàn thành triệt để những vấn đề còn tồn đọng đó.
  • Theo Trần Sĩ Chương (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
 Tác giả| Đăng lúc 18-10-2009 10:13 AM | Xem tất

Khám sức khỏe kinh tế Việt từ chỉ số ICOR

Chỉ số ICOR đo lường hiệu quả đầu tư, tính trên lượng vốn cần tăng thêm để đạt mức gia tăng một đơn vị sản lượng, chính là thông số biểu hiện cụ thể nhất của thể trạng sức khỏe nền kinh tế. Chỉ so ICOR cao đồng nghĩa với hiệu suất kinh tế thấp, nói lên tính cách “tinh và gọn” của hệ thống.

Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Tính trung bình từ năm 2007 đến 2008 tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam là 39.7%. Năm 2008, tỷ lệ đầu tư/GDP lên đến 43.1%, còn theo ước tính sơ bộ đến hết tháng 8 năm 2009 tỷ lệ này là 43,9%. Dù đầu tư cao như vậy nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ từ 6 - 8.5%, và dự kiến, năm 2009, mức tăng trưởng cao của Việt Nam cũng chỉ dừng ở 5,2%, do đó, hệ số ICOR luôn ở mức cao.

ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế.

Ngay từ năm 2007, khi hệ số ICOR của Việt Nam dừng ở mức 5-6, đã có những cảnh báo về sự lãng phí trong đầu tư và hiệu quả thấp trong sử dụng nguồn lực của Việt Nam.


Ông Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, đã phân tích trên Tuần Việt Nam: chỗ yếu của nền kinh tế nước ta là tăng trưởng kém chất lượng. Hệ số ICOR của nước ta trong các năm 2001-2007 là 5,2 nghĩa là cần 5,2 đồng vốn đầu tư để tăng được một đồng GDP, cao gấp rưỡi đến gấp hai nhiều nước xung quanh trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá. Các nước làm giỏi, ICOR của họ thời kỳ đầu CNH là trên dưới 3


                               
Đăng nhập/Đăng ký mở rộng

Tăng trưởng GDP và ICOR một số quốc gia Đông Á


Ông Nguyên chỉ rõ, năm 2007, vốn đầu tư thực hiện so với GDP là 45,6%, nếu hạ được hệ số ICOR xuống, bước đầu ở mức 4,5 thì tốc độ tăng GDP của Việt Nam đã là 10%.


Dù các chuyên gia quan ngại và lên tiếng cảnh báo từ lâu nhưng, đến 2008, chỉ số ICOR Việt Nam lại vượt ngưỡng, lên mức 6,66. Và năm 2009, một lần nữa, chỉ số ICOR ở mốc mới. Theo tính toán của Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội, hệ số ICOR năm 2009 của Việt Nam đã lên tới 8, mức cao nhất từ trước tới nay.


Cho rằng chỉ số ICOR tuyệt đối chỉ mang tính tham khảo, vì có thể có sự khác nhau trong cách tính, tuy nhiên, ông Trần Sĩ Chương, chuyên gia kinh tế độc lập, quan ngại, chỉ so với năm 2008, hệ số ICOR năm 2009 đã tăng 17,5%. “Những nỗ lực của chúng ta trong việc nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế đã không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí còn khiến tình hình kém hơn".


Điều này đồng nghĩa với việc trong cuộc "so găng" với các đối thủ trong khu vực, với thể trạng kinh tế yếu như hiện nay, nếu các nước chỉ cần một lần có thể nhấc được mục tiêu, thì Việt Nam phải tốn sức gấp đôi, thậm chí gấp ba.



                               
Đăng nhập/Đăng ký mở rộng


Đặt trong tương quan với việc Việt Nam tụt hạng về năng lực cạnh tranh theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, cũng như của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, việc hệ số ICOR tăng thể hiện rõ xu hướng đi xuống của nền kinh tế.


Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, có hai yếu tố cân nhắc: đầu tư đúng đối tượng, và môi trường kinh doanh liên tục được cải thiện (tính cạnh tranh) để tiền rót vào được sử dụng hiệu quả. Đáng tiếc, soi vào thực tế Việt Nam, cả hai yếu tố đó đều có vấn đề.


Ông Chương nêu cụ thể: "Danh chính, ngôn thuận thì mọi việc làm mới thuận. Việt Nam nói là kích cầu, nhưng thực chất lại dùng kích cung để thông qua đó hy vọng đẩy cầu lên. Cầu có thật thì cung mới có thật. Trong bối cảnh khủng hoảng, các DN co cụm, kích cung chỉ có thể mang lại hiệu quả giới hạn. Rút cuộc, bỏ ra lượng vốn lớn, nhưng chúng ta không tăng được sự linh hoạt của thị trường, kéo theo đó là hiệu quả đầu tư giảm đi".


Đặc biệt, đối tượng thụ hưởng chính của các chính sách kích cầu của Chính phủ là khối các DNNN, khu vực vốn được nhiều ưu đãi và gây nhiều quan ngại cho các kinh tế gia Việt Nam.


Chỉ riêng tám tháng đầu năm 2009, tổng số vốn rót ra cho đầu tư công đã tương đương với cả năm ngoái 2008. Theo báo cáo của Chính phủ gửi UBTV Quốc hội mới đây, tổng vốn đầu tư phát triển cho cả năm chiếm gần 43% GDP. Trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt khoảng 161 ngàn tỉ đồng, tăng tới 63% so với thực hiện năm 2008 và tăng 42,7% so với kế hoạch năm


Trong khi đó, Báo cáo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia cho hay, doanh thu sản xuất thuần được tạo ra bởi 1 đồng vốn tại DNNN thấp. Trong năm 2006 cứ 1 đồng vốn tại DNNN tạo ra được 0,61 VNĐ doanh thu, chưa bằng một nửa của DN tư nhân trong nước, chỉ bằng 2/3 DN có vốn đầu tư nước ngoài. Lực lượng lao động do DNNN sử dụng chỉ bằng khoảng 28,4% tổng số lao động của các DN trong khi đó DN tư nhân thu hút 50%, DN có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 21,4%.


Đầu tư công cũng chính là khu vực mà cách đây một năm, Nhà nước quyết tâm siết chặt, rà soát lại, để tăng cường hiệu quả. Nhưng chỉ trong vòng vài tháng, khu vực này lại được tái đầu tư với một số lượng tiền khổng lồ.


Hơn nữa, hệ thống ngân hàng của Việt Nam được xếp hạng sức khỏe thấp nhất châu Á, chỉ trên Pakistan, thế nhưng, trong điều kiện suy thoái, các ngân hàng đều báo cáo đạt mức lợi nhuận kỷ lục. Liệu trong phần lợi nhuận đó, có bao nhiêu phần thu lợi từ việc kích cầu của chính phủ, và bao nhiêu phần đóng góp cho việc tăng hệ số ICOR của Việt Nam?


Hướng rót vốn như vậy, nên việc hệ số ICOR tăng không có gì khó hiểu, ông Chương bình luận. Và gắn với hệ số cao ấy, là nguy cơ lạm phát trở lại. Năm 2009, khi nền kinh tế Việt Nam chậm lại, nguy cơ đó chưa rõ ràng, nhưng năm tới, khi kinh tế phục hồi, nếu không có giải pháp sớm, cơ thể kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với đợt sốt mới.


Ông Chương cảnh báo, với những gì Việt Nam đang làm, nếu kinh tế thế giới không cải thiện sớm và mạnh mẽ trong năm 2010, Việt Nam khó có thể vượt qua được những yếu kém của mình. Vẫn còn một xác suất khá cao là Mỹ và các nước Tây Âu phải cần nhiều năm để vượt qua giai đoạn suy thoái, đi vào phục hồi ổn định. Trong tình huống này, tình hình kinh tế Việt Nam sẽ còn nguy kịch hơn cả đầu năm 2009, bởi khi bệnh, nền kinh tế Việt Nam đã không được uống thuốc đúng khiến cho thể trạng đi xuống, trong đó có cả tác dụng những phản ứng phụ của liều thuốc “kích cầu” vừa qua.


Lúc này, việc thay đổi nếp sống kinh tế thường nhật, để rèn và nâng cao thể lực của nền kinh tế là cần thiết. Nói cách khác, việc tái cấu trúc cần được đẩy mạnh một cách quyết liệt hơn nữa. Đáng tiếc, yêu cầu này còn bị kìm giữ bởi việc thiếu ý chí đủ mạnh và tập quán "nước tới cổ mới bơi, chứ không chỉ nước tới chân mới nhảy", ông Chương quan ngại. Việt Nam vẫn còn lờ đờ bước, trong khi những nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao hơn, hiệu quả đầu tư lớn hơn đã tăng tốc tái cấu trúc.


Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký

Quy tắc điểm

Hosting chuyên nghiệp by VTHOST.
Truyen tai iWIN | , > Quảng cáo liên hệ admin@traitimyenbai.net

Phòng tối|Lưu trữ|Diễn đàn Yên Bái Community Guidelines |

GMT+7, 1-11-2014 12:30 AM , Processed in 0.116979 second(s), 27 queries .

Powered by Discuz! X3.2

© 2001-2013 Comsenz Inc.

Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách