Xem: 12315|Trả lời: 13
Thu gọn cột thông tin

tổng hợp các dân tộc tại yên bái

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 5-3-2010 01:06 PM | Xem tất |Chế độ đọc

Mời bạn đăng ký để giao lưu kết bạn nhé <3

Bạn phải đăng nhập để xem được nội dung, nếu bạn chưa có tài khoản? hãy Đăng ký

x
DÂN TỘC KINH

            Ở tỉnh Yên Bái dân tộc Kinh có trên 400.000 người, chiếm 54,07% dân số toàn tỉnh, sinh sống ở 9/9 huyện, thị xã, thành phố. Địa bàn sinh tụ chủ yếu ở lưu vực sông Hồng, sông Chảy, dọc theo các tuyến đường quốc lộ gần trung tâm kinh tế - văn hóa, những vùng có điều kiện để phát triển kinh tế, giao thông thuận lợi.

            Người Kinh (còn có tên gọi là Việt) nói tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (dòng ngôn ngữ Nam – Á). Tiếng Việt là quốc ngữ của Việt Nam.

            Theo nhiều nguồn tư liệu cho thấy người Kinh đã có mặt ở Yên Bái từ rất sớm: Năm 1961 tại xã Đào Thịnh huyện Trấn Yên phát hiện một thạp đồng lớn, trên nắp thạp có các cặp nam nữ đang giao phối biểu thị sự tồn tại của nòi giống. Năm 1964 tại hang Hùm (huyện Lục Yên) tìm thấy bộ hài cốt của người Việt cổ có tên là Hô-Mô-Sa-Piên cách đây 8 vạn năm (Tiến sĩ Kal người Đức đã đến hang Hùm kiểm tra trước khi khẳng định hiện vật quý này). Năm 1995 tại đỉnh đồi đầu cầu Yên Bái (thuộc xã Hợp Minh thành phố Yên Bái) đào được một thạp đồng trong đó có bộ hài cốt của một bé gái 5 tuổi gần như còn đầy đủ cùng các vật tùy táng cách đây 2000 năm. Nhiều tư liệu lưu giữ tại bảo tàng Yên Bái cho thấy con người của thời kỳ Hùng Vương và sau Hùng Vương cư trú ở trung tâm Yên Bái và vùng đất Thu Vật xưa. Năm 1285 tướng quân Trần Nhật Duật đời vua Trần Nhân Tông đã chỉ huy quân đội chiến đấu chống giặc Nguyên – Mông lần thứ 2 trên đất Thu Vật. Theo Kiến Văn Tiểu Lục (quyển 2) của Lê Quí Đôn thì năm 1533 anh em Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên là người Kinh ở huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương phù Lê chống Mạc chạy lên Thu Vật (huyện Yên Bình ngày nay). Vũ Văn Mật xưng là chúa Bầu tập trung người các dân tộc thiểu số và người Kinh khắp nơi xây thành đắp lũy trấn ải một vùng gọi là thành nhà Bầu. Như vậy, người Kinh có mặt ở Yên Bái rất sớm và họ đã cùng với đồng bào người dân tộc thiểu số hòa nhập để cùng mở mang khai phá vùng đất này.      

                        

                               
Đăng nhập/Đăng ký mở rộng

            Kinh tế truyền thống của người Kinh là nông nghiệp trồng lúa nước. Ở Việt Nam nghề trồng lúa nước đã phát triển ít nhất cũng từ thiên niên kỷ II trước công nguyên trong đời sống của người Việt. Kỹ thuật dùng cày (với lưỡi cày bằng đồng thau) để làm đất cũng đã trở thành phổ biến từ sau thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Dân tộc Kinh là một dân tộc trồng lúa và có nhiều kinh nghiệm làm thủy lợi, kỹ thuật tăng vụ, gối vụ để trồng nhiều nhiều vụ lúa trong một năm.

            Với phần lớn là dân từ vùng đồng bằng Bắc Bộ - vựa lúa lớn của Miền Bắc chuyển lên, dân tộc Kinh ở Yên Bái đã đem kinh nghiệm và sức lực, trí tuệ quyết tâm chinh phục và xây dựng vùng đất mới.

            Đồng bào Kinh đã tiên phong trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa giống mới vào đồng ruộng, năng suất lúa ngày càng nâng cao; Từ 4 đến 5 tấn/ha từ những năm 70 nay đã đạt trung bình trên 10 tấn/ha. Bên cạnh cây lúa cổ truyền, đồng bào trồng các loại khoai, đỗ, sắn, ngô...

            Đồng bào Kinh khai hoang canh tác ở vùng đất thấp chủ yếu dọc theo lưu vực sông Hồng song cũng có một số bộ phận đến sinh sống ở vùng cao, rẻo giữa các vùng dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao, Thái. Mường...Ngoài trồng lúa nước, đồng bào còn khai phá đất hoang làm nương rẫy trồng lúa, ngô, sắn...và phát triển nghề rừng, vườn rừng, trồng các loại cây ăn quả phù hợp như cam, quýt ở huyện Lục Yên, Văn Chấn...Trồng các loại cây công nghiệp như mía, quế ở huyện Văn Yên; trồng chè, nhãn ở huyện Văn Chấn; trồng sắn ở các huyện Văn Yên, Trấn Yên...

            Những năm gần đây Yên Bái là một trong những tỉnh có kinh tế trang trại với mô hình VRAC (vườn, rừng, ao, chuồng) phát triển khá mạnh bước đầu thu được kết quả đáng khích lệ. Những kinh nghiệm làm kinh tế của người Kinh được đồng bào các dân tộc thiểu số học tập và cùng phát triển. Có những trang trại đem lại nguồn thu từ 100 đến 200 triệu đồng/năm. Ngoài phần lớn thu từ cây công nghiệp, cây lấy gỗ, cây ăn quả thì chăn nuôi cũng góp phần quan trọng trong tổng thu nhập của người Kinh...

            Bộ phận kinh doanh buôn bán và các doanh nghiệp sản xuất nhỏ phần lớn có người Kinh tham gia. Từ buôn bán nhỏ, hơn 15 năm trở lại đây, nhiều người có vốn lớn đã thành lập các Công ty kinh doanh các mặt hàng như vàng, bạc, đá quý; hàng điện tử, điện lạnh; sản xuất vật liệu xây dựng, kim khí, đồ gia dụng...Hình thành những làng nghề như miến đao ở xã Giới Phiên (thành phố Yên Bái).

            Người Kinh thờ cúng tổ tiên, ăn tết chính là tết Nguyên Đán; ngoài ra còn có tết mùng 3 tháng 3, tết mùng 5 tháng 5, tết rằm tháng 7, tết rằm trung thu. Đồng bào thường thắp hương tổ tiên vào ngày mùng 1 và 15 hàng tháng.

            Xã hội cổ truyền của người Kinh với những tổ chức và sinh hoạt trong làng mang tính tập trung riêng biệt, đa dạng nhưng không khép kín. Truyền thống sinh sống làng vẫn được người Kinh duy trì với hệ thống ngõ xóm. Một làng có nhiều đường vào, không có cổng riêng.

            Kết cấu gia đình người Kinh là gia đình nhỏ phụ hệ. Đàn ông giữ vai trò chủ đạo trong gia đình, phụ nữ ngoài lo việc nội trợ và còn tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội.

            Sự định cư của đồng bào Kinh trên vùng đất trung du miền núi không xa cố đô Phong Châu đã mang theo những nét văn hoá đặc sắc của người Việt giao hoà với văn hoá dân tộc thiểu số tạo nên bản sắc văn hoá rất đáng quý của dân tộc Kinh Yên Bái, góp phần tôn phong giá trị văn hoá chung của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

            Trước hết là làng xóm: Nếu như nhà trình tường đất, cụm xóm tre xanh, cây đa giếng nước mái đình...là đặc trưng nơi ở của người Kinh đồng bằng Bắc Bộ thì khi hoà nhập với đồng bào miền núi dân tộc ít người, thay vào đấy là thôn làng chạy dọc các tuyến đường hoặc phân tán quanh các thung lũng, khe suối. Nhà ở không làm tường đất, lợp rơm rạ mà trước đây thường lịa ván bốn xung quanh, lợp cọ; nền sân, công trình phụ được đắp bằng các vật liệu khoáng sản sẵn có như cao lanh, đá vôi. Cũng không ít gia đình làm nhà sàn để ở như dân tộc thiểu số vừa để tận hưởng cảnh vùng đồi núi, vừa hài hoà với cuộc sống của đồng bào dân tộc. Hơn hai chục năm trở lại đây, nhiều gia đình người Kinh ở các đô thị và không ít gia đình ở nông thôn đã dùng vật liệu đất nung, xi măng, sắt thép để xây dựng nhà ở.

            Chữ viết được duy trì nghiêm ngặt mang tính quốc gia, nhưng tiếng nói có phần chuyển hoá. Người Kinh ở miền Trung, ở Hà Tây, Thái Bình...khi nói có những âm tiết được phát âm khác nhau, nhiều từ địa phương khác nhau mặc dù cùng để chỉ một hiện vật. Quá trình định cư ở Yên Bái cách phát âm và từ địa phương ấy bị mất dần, thế hệ thứ ba, thứ tư sau định cư không còn quen với tiếng nói quê gốc. Một đặc điểm nữa là đồng bào Kinh nhập tâm tiếng nói của người dân tộc rất nhanh, sống với vùng dân tộc nào chỉ một vài năm là họ có thể hiểu được nội dung và nói chuyện thông thường với dân tộc ấy, thậm chí hoà nhập với người dân tộc thiểu số chỉ trong một thời gian ngắn.

            Trang phục và trang sức của người Kinh không mấy thay đổi; đầu thế kỷ 20 còn mang nhiều dáng dấp của đồng bằng Bắc Bộ; đồng bào có nghề dệt vải tơ tằm truyền thống. Sau năm 1945, và từ ngày đất nước mở cửa hoà nhập đến nay, y trang phục và cung cách ăn mặc, trang sức, trang điểm gần như có sự tương đồng, nhất quán với miền xuôi và thành thị lớn. Các trang phục cắt may hoặc mua sắm của một bộ phận người Kinh ở miền núi gần với trang phục dân tộc, đó chỉ là sở thích chứ không phải do ảnh hưởng từ giao lưu văn hoá.

            Phong tục tập quán và văn hoá tín ngưỡng của người Kinh Yên Bái không còn giữ được đầy đủ như quê gốc đồng bằng. Một phần do quá trình thuyên chuyển cần có sự đơn giản hoá để phù hợp với môi trường mới, phần khác do điều kiện sinh hoạt ở miền núi không cho phép.

Tín ngưỡng truyền thống của đồng bào Kinh là thờ cúng tổ tiên. Truyền thống này gần như được đại gia đình các dân tộc Việt Nam tôn trọng, hướng theo. Người Kinh miền xuôi tôn thờ bốn vị linh thiêng đất nước: Mẫu Thượng Ngàn, Thần núi Tản Viên, Thánh Gióng, Đức thánh Trần Hưng Đạo, thì ở Yên Bái người Kinh một số nơi cũng đặt bài vị thờ các vị này (đền Đông Cuông, đền Thác Bà, đền Bách Lẫm...). Rõ ràng nơi thờ cúng, nghi lễ tâm linh của người Kinh Yên Bái gần như không thay đổi so với các vùng quê gốc.


            Văn hoá ẩm thực chịu nhiều ảnh hưởng của miền núi. Đồng bào Kinh tiếp nhận các món ăn dân tộc, cung cách tiếp khách, sinh hoạt ăn uống không cầu kỳ, cốt sao thể hiện  ngon miệng trong bữa ăn, thể hiện lòng mến khách trong giao tiếp.

            Sinh hoạt văn hoá và nghề truyền thống của người Kinh ở Yên Bái mang tính quần chúng, phổ thông nhiều hơn độ chuyên sâu. Văn học truyền miệng và văn học viết của người Kinh có rất sớm. Văn học viết bắt đầu từ các bản văn tự Hán – Nôm đời Trần qua các bản gia phả, chúc thư, hiện vật khảo cổ và chữ la tinh, chữ quốc ngữ sau này. Văn học dân gian cũng xuất hiện khoảng thời gian đời Lý - Trần hoặc sớm hơn vài ba thập kỷ. Các cốt truyện cổ nổi tiếng ở đồng bằng như Tấm Cám, Cóc kiện trời, Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Thánh Gióng, Cây khế... được đưa lên miền núi lưu truyền sâu rộng trong nhân dân, thậm chí trở thành mô típ cho các sáng tác dân gian của người dân tộc thiểu số. Câu ca dao: “Còn tiền chợ Ngọc chợ Ngà, Hết tiền xuôi ngược thác Bà, thác Ông” hay “Muốn ăn gạo trắng nước trong, Vượt qua đèo Ách vào trong Mường Lò”; chắc chắn có từ xa xưa. Rồi qua cuộc khởi nghĩa Cần Vương, khởi nghĩa Yên Bái, các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay; đồng bào Kinh Yên Bái tiếp tục có những tác phẩm văn học viết, tác phẩm văn học truyền miệng được nhân dân thừa nhận, lưu truyền.                             

            Đồng bào Kinh ở Yên Bái có đóng góp rất lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Qua các cuộc kháng chiến đồng bào đã đóng góp sức người, sức của, hàng vạn thanh niên đã nhập ngũ anh dũng chiến đấu trên các chiến trường Nam, Bắc.

            Phát huy những thành tựu đã đạt được, đồng bào dân tộc Kinh đang nỗ lực cùng các dân tộc thiểu số trong tỉnh phấn đấu đưa tỉnh Yên Bái trở thành tỉnh phát triển toàn diện trong khu vực miền núi Bắc Bộ,  vững vàng trong thế kỷ 21.

Cảm ơn

Số người tham gia 1Thanks +1 Thu lại Lý do
MrAnui + 1

Xem tất cả

 Tác giả| Đăng lúc 5-3-2010 01:07 PM | Xem tất
DÂN TỘC TÀY

        

Dân tộc Tày ở Yên Bái có khoảng 120.000 người, chiếm 17% dân số toàn tỉnh. Đồng bào Tày sống tập trung đông ở 7/7 huyện thị trong tỉnh (trừ 2 huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải). Trong đó đông nhất là các huyện: Lục Yên 53,18% dân số; Văn Chấn 16,09%; Yên Bình: 15,56%; Văn Yên: 15% dân số toàn huyện.

Địa bàn cư trú của đồng bào Tày phần lớn ở những nơi có điều kiện sản xuất nông nghiệp và thuận lợi giao thông. Ngoài ra còn ở các xã vùng cao còn gặp nhiều khó khăn trong việc thông thương hàng hoá, đi lại, đời sống còn nghèo như: Xuân Long (huyện Yên Bình); Thượng Bằng La, Đồng Khê (huyện Văn Chấn); Lâm Thượng, Khánh Thiện...(huyện Lục Yên); Việt Hồng, Hồng Ca...(huyện Trấn Yên)...

Tên gọi dân tộc Tày là tên gọi chung và phổ biến nhất. Người Tày có tiếng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (dòng ngôn ngữ Nam Á).

Theo nhiều nhà nghiên cứu, người Tày là dân cư bản địa ở Việt Nam, cư trú trên địa bàn rất rộng và chiếm dân số đông tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang...

Người Tày sinh sống ở Yên Bái đã từ lâu đời. Một số người Tày ở huyện Văn Yên di cư từ Lạng Sơn sang Yên Bái từ trước cách mạng tháng Tám năm 1945. Một số người Tày ở các huyện Văn Chấn, Trấn Yên có gốc người Việt di cư từ các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Nghệ An lên Yên Bái, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà dần dần đã Tày hoá. Bộ phận người Tày ở vùng Lục Yên mang nhiều giá trị văn hoá độc đáo riêng biệt so với người Tày ở vùng Văn Chấn, Trấn Yên và khác biệt so với người Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam.

Kinh tế chính của người Tày ở Yên Bái là nền kinh tế nông nghiệp, đồng bào làm ruộng nước kết hợp với săn bắt và chăn nuôi. Với truyền thống lâu đời cùng với sự cần cù, sáng tạo trong lao động và tiếp thu khoa học kỹ thuật mới rất nhanh nên nông nghiệp của người Tày phát triển tương đối cao. Năng suất lúa đạt  9 – 10 tấn/ha/năm. Cùng với việc thâm canh tốt 2 vụ lúa, đưa giống mới vào sản xuất, tăng vụ ngô đông, đồng bào Tày phát triển mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm; tích cực phát triển nghề rừng và trồng mới các loại cây công nghiệp như: chè, quế, sắn.

Nhà ở của người Tày chủ yếu là nhà sàn, dùng vật liệu xây dựng sẵn có ở địa phương, lợp bằng lá cọ hoặc cỏ giang. Sàn được dát mai, diễn hoặc ván, cửa làm bằng phên nứa hoặc lịa bằng gỗ. Mỗi ngôi nhà có từ ba đến năm gian, hai trái, có những vùng đời sống nhân dân khá giả còn làm thêm cả nhà bếp Slườn giảo gồm 2 gian nổi vuông góc với gian trong (gian để phụ nữ ở) kích thước các gian cửa nhà bếp tỷ lệ bằng  2/3 gian trong nhà chính và gầm sàn dùng để buộc trâu, ngựa, chuồng gà – ngày nay do thực hiện nếp sống mới ở cơ sở, nhân dân đã bỏ được tục này. Trên sàn nhà chính, gian trung tâm thường là gian giữa, nếu số gian nhà là lẻ. Nếu nhà số gian chẵn thường chọn gian trung tâm là gian thứ hai kể từ cầu thang ngoài vào. Cầu thang ngoài được quy định làm cầu thang chính. Giữa gian đặt bếp, ngọn lửa được duy trì thường xuyên, dùng để sưởi về mùa đông và đun nước uống, ít khi nấu nướng ở đây. Các nghi lễ tôn giáo khác liên quan đến lửa đều diễn ra ở bếp này. Những đêm đông trời lạnh, quần tụ xung quanh bếp lửa hồng, cả gia đình người Tày nhiều thế hệ cùng thảo luận việc đồng áng, trẻ em nghe người già kể chuyện cổ tích, những lời dạy bảo...tạo nên một lối sống lành mạnh giữ tình thân ái.

Cùng với gian bếp lửa, phía trên lan can đằng trước là nơi đặt bàn thờ. Bàn thờ được thiết kế cao ngang tầm ngực, dài theo chiều rộng của gian, chiều sâu một mét thường làm bằng vật liệu tốt. Nhìn vào bàn thờ biết được gia đình thờ cúng bình thường hoặc làm nghề thầy cúng, làm Pật, phường kèn vì căn cứ vào số lượng bát hương để nhận biết. Nếu một gia đình không hành nghề cúng chỉ thờ hai bát hương là bát tổ tiên và bát mụ Mè va. Còn thầy cúng hoặc Pật thêm bát hương kê cao hơn. Nếu nhà có hai bàn thờ là chủ nhà ở rể, thờ hai họ nội ngoại. Ở huyện Văn Chấn, bàn thờ của người Tày lại để ở gian ngoài quay mặt theo chiều dọc của nhà. Tuy nhiên đây vẫn là nơi thiêng liêng nên phụ nữ, vợ chồng trẻ không được ngủ gần bàn thờ, cách thờ cúng giống như những vùng khác. Sau bát hương có dán tờ giấy đỏ trên viết chữ nho lý lịch gia chủ Ràm Choòng, với lời kết bằng hai câu  Phúc Như Đông Hải, Thọ Như Nam Sơn. Nhà sàn được dẫn lên bởi một hoặc hai cầu thang gỗ khoẻ, chắc, chín bậc.

Đồng bào Tày Yên Bái có phong cách sống sôi nổi, mạnh mẽ, lãng mạn. Những dịp tết Nguyên đán, lễ hội Lồng Tồng, lễ Tăm Khảu Mảu, lễ cưới của bạn bè, họ hát giao duyên Slípsí suốt ngày đêm. Những bài Khắp cọi được duy trì từ đời này sang đời khác. Thiếu nữ, thanh nữ Tày xinh xắn với những lễ phục cổ truyền màu đen, khoẻ mạnh, má ửng hồng, đánh còn, đánh yến đến với những lễ hội hồn nhiên chân thực càng làm tăng thêm vẻ đẹp của cộng đồng.

             Trang phục của người Tày chủ yếu bằng vải bông nhuộm chàm đen cho cả nam, nữ và trẻ em, ít hoặc không trang trí hoa văn. Phụ nữ Tày mặc áo năm thân có thắt lưng bằng vải chàm gấp lại buộc phía sau, đi đôi với váy trong dịp cưới, ngày lễ và tết. Ngày thường mặc áo ngắn với váy hoặc quần, áo ngắn may không cổ kiểu giống áo bà ba. Đàn ông mặc áo tứ thân cổ tròn, khuy vải hoặc cúc và quần lá tọa, y phục này người lớn tuổi thường dùng, thanh thiếu niên hiện nay mặc như người Kinh. Phụ nữ thường đội khăn nhuộm chàm, khăn vuông gấp xéo, có hai dải vải đỏ nhỏ buộc về phía trước trán, đuôi khăn lật về phía sau. Đàn ông chỉ đội khăn xếp dịp lễ tết, đặc biệt là lễ đón dâu, hoặc đi ở rể. Đồ trang sức chủ yếu dùng chất liệu bằng bạc, như vòng cổ của trẻ con, vòng tay của phụ nữ, dây xà tích...

Nghề thủ công truyền thống như trồng bông dệt vải đã phát triển từ rất sớm, nghề nuôi tằm để lấy tơ dệt dây dao Slaicha cũng có mặt trong văn hoá của người Tày nơi đây từ lâu. Hoa văn dệt trên vải thổ cẩm phong phú, đa dạng, riêng dây dao gồm hai mươi bảy hình tượng, mỗi hình gắn với một truyện dân gian có nội dung giáo dục tình người sâu sắc. Nghề làm giấy dó, nghề đan lát, nghề mộc, nghề rèn, nghề đục đá phát triển khá cao.

Trong quá trình giao lưu văn hoá Kinh – Tày, Hán – Tày, nhiều cốt truyện đã được chuyển thể sang Nôm Tày như Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa... đồng thời, người Tày đã sáng tạo ra những kiệt tác như Khảm Hải (Vượt biển), nhiều bài khắp cọi, Phongslư, Pụt, hát quan làng (Hát đón dâu) có giá trị nhân văn sâu sắc.

Hình thức kết bạn Hắt tồng của người Tày rất phổ biến, những người bạn trai, bạn gái hợp nhau về tính nết cùng trang lứa, mang lễ vật một con gà thiến, một chai rượu đến nhà nhau, xin bố mẹ hai bên cho kết tồng (kết bạn) nếu bố mẹ đồng ý  thì họ coi nhau như anh em ruột thịt. Hội nghề nghiệp cũng có từ lâu đời với tên gọi là phường, hát phường, như phường săn bắn, phường này không cần cùng trang lứa, nhưng thường gần nhau về địa bàn cư trú, sở thích về công việc đang tiến hành, thủ tục kết nạp giản đơn, chỉ xin trưởng phường bằng lời không cần lễ lạt, sản phẩm được chia theo công sức của mình đóng góp.

Hôn nhân của người Tày được tiến hành qua nhiều nghi thức độc đáo và đặc sắc, nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống được thực hiện trong đám cưới truyền thống mà trong đó hát quan làng (hát trong đám cưới của ông mối) là một trong những nghi thức sinh hoạt đặc sắc nhất vẫn còn được lưu giữ cho tới ngày nay. Lễ cưới truyền thống từ khi làm quen được với nhau sẽ trải qua các giai đoạn chủ yếu, thưa chuyện với gia đình thông qua bước trung gian là quan làng (ông mối) xem ngày qua thầy cúng lễ Slicay (lễ bốn gà), lễ cưới, lễ lại mặt, tết quan làng. Các bước này tiến hành hàng năm trời có khi đến 3 năm.

Tang lễ của người Tày với những nghi thức và chịu ảnh hưởng nhiều của tam giáo. Nhiều giá trị nhân văn được thể hiện thông qua tang ma truyền thống của đồng bào. Tang lễ truyền thống của người Tày ở Yên Bái tích hợp nhiều giá trị nghệ thuật dân gian đặc sắc như nghệ thuật tranh cắt giấy (qua nhà táng), nghệ thuật trình diễn dân gian, nghệ thuật trang trí…Tuy nhiên, ở những bản xa các trung tâm xã, đời sống của nhân dân còn khó khăn, đôi khi tang lễ cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất và phát triển kinh tế gia đình.

Nền mỹ thuật đặc sắc của người Tày Yên Bái từ ngàn xưa nay được bảo lưu trên thổ cẩm như hoạ tiết trên màn che Phứn mản, mặt gối mon thu, mặt địu nả đa, dây dao Slaichạ, y phục thầy cúng, y phục Pụt. Đặc biệt là bộ tranh thờ của thầy cúng từ 7 đến 12 tờ với những hình tượng người, quỷ, con vật sinh động.

Nhạc cụ của người Tày gồm sáo, nhị, đàn tính, não bạt, trống, kèn, quả nhạc, chùm nhạc, chũm chọe. Trong đó hai nhạc cụ là đàn tính và chùm nhạc là hai nhạc cụ quan trọng hơn cả được người dân sử dụng khá phổ biến trong các lễ hội, đặc biệt là lễ hội “Tỏn phi then” (mời thần then xuống chơi xuân ăn tết trong dịp đầu xuân của người Tày, theo quan niệm dân gian nếu không có 2 nhạc cụ trên sẽ không mời được các thần thánh).

Sinh hoạt ẩm thực của người Tày thường ngày giản đơn, được chế biến từ gạo, sắn, khoai, măng, rau, cá, rau rừng, rong suối. Những ngày tết được chế biến cầu kỳ hơn. Những món cơm lam, măng nhồi nhân thịt, canh khâm kì, măng chua, riêu báng (nhiên liệu từ bột cây báng rừng) là đặc sản của vùng người Tày Yên Bái. Các món ăn xôi, đồ, nướng, lam…cũng là các món ăn khá phổ biến trong cách chế biến thức ăn hàng ngày của người Tày.

Đồng bào Tày có truyền thống yêu nước, đấu tranh anh dũng. Người Tày ở xã Đại Lịch (huyện Văn Chấn) tự hào về hai người con ưu tú của quê hương là Phạm Thọ (Lãnh Năm) và Phạm Tế (Lãnh Tế) là tướng tin cẩn của phong trào Cần Vương chống Pháp dưới sự chỉ huy của Nguyễn Quang Bích.

Từ khi có Đảng lãnh đạo, đồng bào Tày Yên Bái một lòng theo Đảng. Chiến khu Vần – Hiền Lương (làng Vần nay thuộc xã Việt Hồng – huyện Trấn Yên) là địa danh đã trở nên nổi tiếng và trở thành di tích lịch sử với nhiều thành tích trong thời gian chống Pháp. Làng Vần (thuộc xã Việt Hồng – huyện Trấn Yên) là nơi xuất phát của 3 đội quân vũ trang tuyên truyền, đi phát động quần chúng phá kho thóc chia cho dân, đánh địch trừ gian lập chính quyền cách mạng.

Nhiều đội du kích người Tày tiêu biểu như: đội du kích xã Đại Lịch, Thượng Bằng La (huyện Văn Chấn), đội du kích xã Hồng Ca (huyện Trấn Yên)... đội du kích Đại Lịch kiên cường bám giữ quê hương phá tề, vận động quần chúng, xây dựng lực lượng võ trang, đánh Pháp nhiều trận, lập chiến công xuất sắc. Tổ du kích vùng Hưng Khánh, Hồng Ca năm 1947 dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay địch đầu tiên trong cả nước. Thời kỳ chống Mỹ cứu nước xã Hưng Khánh (huyện Trấn Yên) vinh dự là lá cờ đầu miền Bắc trong phong trào bảo vệ trị an.

Ngày nay truyền thống văn hoá dân gian luôn được bảo tồn, khai thác và phát huy trong sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, cùng với các tộc người khác trong tỉnh người Tày góp phần to lớn của mình trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc  và phát triển quê hương Yên Bái ngày một giàu đẹp.
 Tác giả| Đăng lúc 5-3-2010 01:09 PM | Xem tất
Trong các dân tộc anh em sinh sống ở Yên Bái, người Dao là dân tộc có dân số khá đông, hiện nay có khoảng 62.000 người, chiếm 9,1% dân số toàn tỉnh. Địa bàn cư trú của người Dao chủ yếu ở rẻo giữa – vùng tiếp giáp giữa vùng thấp và vùng cao. Người Dao sống tập trung đông nhất ở huyện Văn Yên, chiếm đến hơn 30% tổng số người Dao ở Yên Bái, sau đó đến các huyện Yên Bình, Lục Yên, Văn Chấn và Trấn Yên. Các xã có đồng bào Dao cư trú là: Xuân Tầm, Mỏ Vàng, Viễn Sơn, Đại Sơn, Lang Thíp, Châu Quế Thượng (huyện Văn Yên); Bảo Ái, Phúc An, Tân Nguyên, Yên Thành, Tân Hương, Cảm Nhân, Tích Cốc, Vũ Linh, Bạch Hà, Vĩnh Kiên (huyện Yên Bình); Tân Lĩnh, Phúc Lợi, Phan Thanh, Trung Tâm, Tân Phượng, Động Quan (huyện Lục Yên); Lương Thịnh, Y Can, Tân Đồng, Kiên Thành (huyện Trấn Yên); Minh An, Nậm Mười, Suối Quyền, An Lương, Nậm Lành, Nậm Búng (huyện Văn Chấn), các xã có đông người Dao sinh sống chủ yếu là ở phía thượng huyện Văn Yên, là địa bàn tiếp giáp giữa các huyện Văn Chấn và Văn Yên, huyện Văn Chấn và Trấn Yên, thuộc phía Tây bắc và Đông bắc huyện Yên Bình, vùng giáp ranh giữa huyện Lục Yên và Yên Bình, vùng giáp ranh giữa huyện Lục Yên và huyện Bảo Yên (tỉnh Lào Cai).

Người Dao có nhiều tên gọi khác nhau như: người Động, người Xá, người Mán, người Dao...nhưng Dao là tên gọi chính thức. Chính người Dao tự gọi mình là “Kiềm miền” (tức là người ở rừng).

Người Dao hiện sinh sống ở tỉnh Yên Bái có 4 nhóm chính là: Dao Đỏ (còn gọi là Dao Sừng, Dao Đại Bản), Dao Quần Chẹt (còn gọi là Dao Nga Hoàng, Dao Sơn Đầu), Dao Quần Trắng và Dao Làn Tuyển (còn gọi là Dao Tuyển). Để phân biệt các nhóm Dao, chủ yếu dựa vào sự khác nhau trong bộ trang phục của phụ nữ. Phụ nữ Dao đỏ có đặc điểm dễ nhận thấy là dùng rất nhiều màu đỏ, nhiều tua và núm bông đỏ. Trong đám cưới hay trong lễ cúng Bàn Vương, phụ nữ Dao đỏ đội mũ rất to có khung gỗ hay nan tre nứa bẻ thành hai góc nhọn nhô ra phía trước mặt. Bên ngoài phủ vải đỏ hay khăn thêu.  Phụ nữ Dao Quần Chẹt mặc quần ống hẹp bó sát vào chân. Trước đây phụ nữ nhóm Dao này còn có tục chải tóc bằng sáp ong nên gọi là Dao Sơn Đầu. Trang phục nữ Dao Quần Trắng có đặc điểm nổi bật là yếm rất to che kín cả ngực và bụng. Tên gọi Dao Quần Trắng bắt nguồn từ phong tục trong lễ cưới phải mặc quần trắng. Người Dao Làn Tuyển mặc áo dài, đội mũ nhỏ như cái đấu gỗ.

Các nhóm Dao cũng có sự khác nhau ít nhiều về tiếng nói song đều thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao (dòng ngôn ngữ Nam Á). Mặc dù có tên gọi, trang phục, tiếng nói có một số điểm khác nhau nhưng tất cả các nhóm Dao đều có chung một nguồn gốc và cùng thờ ông tổ Bàn Vương. Cho đến nay trong cộng đồng người Dao vẫn lưu truyền câu chuyện Bàn Hồ, được ghi lại rất rõ ràng trong một số cuốn Quả sơn bảng. Người Dao di cư vào Việt Nam sớm nhất từ thế kỷ XIII, các nhóm Dao ở tỉnh Yên Bái chủ yếu di cư từ các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang và Cao Bằng.

  Hình thái kinh tế chủ yếu của người Dao ở Yên Bái là sản xuất nông nghiệp với hai loại hình: lúa nương và lúa nước. Trong đó lúa nước chiếm tỷ lệ ít hơn. Ngoài ra, đồng bào còn trồng một số loại cây hoa màu như ngô, sắn...Rau của người Dao có các loại bầu, bí, mướp đắng, các cây họ đậu, khoai, củ từ, dưa gang...Đặc biệt ở người Dao Yên Bái phát triển mạnh 2 loại cây công nghiệp đó là cây quế và cây chè. Cây quế là cây trồng truyền thống của đồng bào Dao ở huyện Văn Yên, khi sinh con gái bố mẹ lại trồng thêm quế dành làm của hồi môn, khi sinh con trai cũng trồng thêm quế làm của để dành cho con. Ngoài cây lúa, hoa màu và quế, chè người Dao Yên Bái còn có thu nhập thêm từ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà...

            Nghề thủ công truyền thống là làm giấy, dệt vải, nhuộm chăn, in và thêu hoa văn trên vải. Đan lát các đồ đựng bằng tre, nứa, giang, mây song. Nghề rèn của đồng bào Dao cũng phát triển, chủ yếu là các nông cụ như: dao, cuốc, cào cỏ, lưỡi cày. Nghề làm đồ trang sức bằng bạc, sanh căng và bằng đồng làm thành vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, nhẫn, xà tích.

            Đồng bào dựng nhà gần các con suối và ở tập trung thành từng bản riêng biệt hoặc xen cư với các dân tộc anh em khác. Ở người Dao Yên Bái hội tụ đầy đủ 3 loại hình nhà ở đó là: nhà sàn của người Dao quần trắng, nhà đất của người Dao đỏ và nhà nửa sàn nửa đất của người Dao Quần Chẹt và Dao Tuyển. Hiện nay, những gia đình người Dao có cuộc sống khá giả đã xây nhà theo kiểu mới.

Trang phục truyền thống của người Dao Yên Bái đặc sắc và nổi bật ở nghệ thuật trang trí trên quần áo với mô típ hoa văn cây cỏ, động vật, hình người, hình chim, kết chữ Hán được cách điệu rất sinh động. Trang phục đàn ông thường có hai loại: áo ngắn mặc hàng ngày và áo dài mặc trong lễ hội, lễ cấp sắc hay đám cưới.

            Văn hoá ẩm thực của người Dao đơn giản hơn so với các tộc người khác thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, thức ăn chính của người Dao là cơm tẻ và gạo nương, thực phẩm hàng ngày chủ yếu là các loại rau hái trong rừng, măng, mộc nhĩ và các loại thảo mộc khác. Ngày nay, đồng bào đã trồng nhiều loại rau khác nhau ngay tại vườn nhà để phục vụ nhu cầu hàng ngày khi không vào rừng hái rau.  Các loại gia súc gia cầm được nuôi chủ yếu để phục vụ các nhu cầu tín ngưỡng dân gian của đồng bào. Thịt lợn là loại thực phẩm không thể thiếu trong tết nhảy, lễ cấp sắc, lễ chay, lễ cưới và tang ma… mỗi nghi lễ của người Dao thường mổ từ 5 – 7 con lợn. Các món ăn chủ yếu của người Dao trong ngày thường được chế biến theo kiểu luộc và xào, thỉnh thoảng cũng nướng và lam.

Các nhóm Dao đều thờ cúng tổ tiên và thờ Bàn Vương. Thờ cúng tổ tiên  là việc thờ cúng chủ yếu trong gia đình. Bàn Vương được coi như thủy tổ của các dòng họ nên cũng cúng bái chung với tổ tiên.

            Trong sinh hoạt xã hội – gia đình của người Dao ở Yên Bái, “ Cấp sắc” là một tục lệ phổ biến và bắt buộc tất cả đàn ông Dao đều phải qua lễ này, thậm chí lúc còn sống chưa được cấp sắc sau khi chết con cháu phải làm lễ cho, đây là một nghi thức của tàn dư lễ thành đinh. Đồng bào Dao quan niệm: Người nào được cấp sắc được nhận là con cháu của Bàn Vương; người được cấp sắc mới được xã hội coi là người lớn, được  cấp sắc thì làm ăn mới may mắn, dòng họ mới được phát triển và đặc biệt, nếu muốn làm được nghề thầy cúng thì bắt buộc phải qua lễ cấp sắc, sau lễ cấp sắc, người được cấp sắc sẽ có một tên mới gọi là tên âm, cho tới khi chết các thầy cúng sẽ gọi tên cấp sắc mà không sử dụng tên như khi còn sống thường ngày.

Người Dao Yên Bái còn có một nghi lễ rất quan trọng, gọi là “ Tết nhảy” (Nhiàng chầm đao). Nghi lễ này nhằm mục đích cúng Bàn Vương và luyện binh tướng (âm binh) để bảo vệ cuộc sống và sinh hoạt gia đình. Tết nhảy thường được tổ chức vào tháng chạp (từ 15-25 tháng chạp). Nội dung chính của nghi lễ này là múa “Tam nguyên an ham”, múa bắt ba ba, múa sản xuất diễn tả quá trình lao động của người Dao. Nghi lễ “Nhiàng chầm đao” chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt tôn giáo – tín ngưỡng nhưng nó không tồn tại như ngày hội, ít nhiều mang màu sắc văn nghệ, vui khỏe. Ngày nay một số động tác múa đã được cải biến và phục vụ cho sinh hoạt văn hóa dân tộc.

            Các nghi lễ trong cưới xin và tang ma của người Dao bao gồm nhiều bước, khá phức tạp và phải trải qua nhiều bước như: nhà trai đến nhà gái xin so tuổi đôi nam nữ; nhà trai báo cho nhà gái biết kết quả so tuổi của đôi nam nữ; định ngày cưới và dâng lễ; lễ cưới và lại mặt. Thông thường người Dao có tục ở rể 3 năm, sau đó mới được ở riêng hoặc về nhà trai ở hẳn.

            Trong tang ma, người Dao thường tiến hành các lễ sau: Lễ khâm niệm, lễ xôi gà và lập bàn thờ (lễ cấp thủy và dâng rượu, gia súc); lễ làm chay, lễ nhập quan yểm bùa, lễ đưa đám, lễ hạ huyệt và lễ cúng cơm.  Hầu hết các nhóm người Dao ở Yên Bái không có tục cải táng người chết. Nếu là người đã qua lễ cấp sắc đều được gọi hồn về nhà lớn để thường xuyên thờ cúng, người Dao có tục lệ ăn sinh nhật, cúng sinh nhật cho cha mẹ khi còn sống, không tổ chức cúng giỗ khi đã chất. Đồng bào rất kiêng kỵ việc dựng vợ gả chồng cho con hay làm nhà mới, trồng cấy, gieo hạt giống trùng với ngày mất của người thân.

            Các nhóm người Dao ở Yên Bái đều có vốn thơ ca dân gian rất phong phú, đồng bào hát (Pả dung) ca ngợi tình yêu lứa đôi, yêu thiên nhiên, thế giới động vật dưới nhiều hình thức sinh hoạt phong phú và còn gắn vào những bài hát giáo lý, xã hội, gia đình. Người Dao có rất nhiều chuyện cổ tích kể về mọi hiện tượng xảy ra trong xã hội, thiên nhiên. Các câu chuyện đều mang tính giáo dục sâu sắc, anh em phải sống hòa thuận – yêu thương nhau.         

Trải qua bao cuộc biến thiên của lịch sử, bao cuộc thiên di kéo dài qua nhiều thế kỷ, đồng bào Dao đã anh dũng và bền bỉ chống lại trở lực của tự nhiên và xã hội. Với truyền thống đấu tranh anh dũng, đồng bào Dao đã tham gia phong trào Cần Vương do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo. Những năm 1888 – 1889, đồng bào Dao đã cùng đồng bào Mông đánh Pháp dưới sự chỉ huy của Đặng Phúc Thành và Đào Chính Lục. Sang đầu thế kỷ XIX, cuộc khởi nghĩa của người Dao do Triệu Tiến Kiên và Triệu Tài Lộc lãnh đạo (1913) đã thu hút được đông đảo đồng bào Dao và các dân tộc anh em khác tham gia.

            Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dân tộc Dao đã có công đóng góp rất lớn. Người Dao có gần 200 liệt sỹ, hơn 80 thương binh và được Chính phủ tặng thưởng gần 1.500 huân huy chương các loại. Ở xã Châu Quế Hạ (Văn Yên) có mẹ Triệu Mùi Sính và ở xã Tân Hợp (Văn Yên) có mẹ Đặng Thị Nhầu được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
 Tác giả| Đăng lúc 5-3-2010 01:10 PM | Xem tất
Dân tộc Hmông ở Yên Bái có khoảng 55.000 người, chiếm 8,1% dân số toàn tỉnh, cư trú tập trung tại 40 xã vùng cao, đặc biệt khó khăn thuộc 5 huyện: Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn, Văn Yên, Trấn Yên, Lục Yên. Tại huyện Mù Cang Chải, đồng bào cư trú ở 13/13 xã, chiếm 95% dân số toàn huyện; tại huyện Trạm Tấu, 10/11 xã (trừ xã Hát Lừu) có đồng bào Hmông sinh sống, chiếm 70% dân số toàn huyện. Tỉnh Yên Bái có 22/40 xã hoàn toàn là người Hmông. Các xã còn lại đồng bào sống xen kẽ với các dân tộc anh em khác.

Dân tộc Hmông ở Yên Bái chủ yếu gồm 4 nhóm chính là: Hmông Hoa (Mông Lềnh); Hmông Đen (Mông Đu) và Hmông Trắng (Hmông Đơ) và Hmông Si (Hmông Đỏ). Trong đó người Hmông Hoa và Hmông Si chiếm số lượng đông hơn cả. Một bộ phận người Hmông Hoa di cư từ huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai xuống định cư tại huyện Văn Yên mang nhiều đặc trưng văn hoá của cư dân vùng biên viễn. Tiếng nói của người Hmông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao (dòng ngôn ngữ Nam Á).

               

Những nhóm Hmông đầu tiên di cư đến Việt Nam cách đây trên 300 năm, trong đó, có một số đồng bào Hmông đã chọn huyện Mù Cang Chải làm điểm dừng chân, lập kế sinh nhai, lấy tên là “Xáo Hmông’; sau đó mở rộng địa bàn sinh sống sang các huyện Trạm Tấu, Văn Chấn. Gần đây có một phần đồng bào Mông di chuyển từ Lào Cai, Hà Giang, Sơn La sang.

Địa hình là vùng núi cao, vùng đầu nguồn, khí hậu khắc nghiệt, thiếu nước sản xuất và sinh hoạt đã quyết định hình thái sản xuất của người Hmông. Nông nghiệp trồng trọt là nguồn sống chính của đồng bào. Do vùng đồng bào Hmông sinh sống về mùa đông khô hạn và giá lạnh giá kéo dài, có sương muối, hai huyện phía Tây tỉnh là Trạm Tấu, Mù Cang Chải còn bị ảnh hưởng bởi gió tây khô nóng nên mùa vụ trồng trọt và năng suất cây trồng của người Hmông chịu nhiều ảnh hưởng của thiên nhiên. Trước đây người Hmông ở Yên Bái chỉ trồng một vụ lúa do điều kiện canh tác rất khó khăn nhưng những năm gần đây, đồng bào đã ứng dụng khoa học kỹ thuật, cải tạo đất và được sự đầu tư của Nhà nước xây dựng các công trình thuỷ lợi nên số ruộng 2 vụ đã dần dần tăng lên. Đồng bào Hmông có kinh nghiệm làm ruộng bậc thang với trình độ canh tác thông thạo, có những thửa ruộng bậc thang cheo leo trên sườn núi chỉ đủ 1 -2 đường bừa.

Đồng bào Mông Yên Bái đã và đang phát huy khả năng cần cù lao động, cải tạo đất, thâm canh tăng vụ, đưa giống ngô mới và khoai tây vào gieo trồng bước đầu cho năng suất khá, sản lượng lương thực của đồng bào được tăng lên. Những tiềm năng thế mạnh của người Hmông ở Yên Bái là: nghề rừng, chăn nuôi đại gia súc, trồng cây đặc sản và cây công nghiệp ngắn ngày. Đồng bào đã khai thác được một số cây con thế mạnh như: cây chè tuyết Shan đặc sản, cây sơn tra, thảo quả, chăn nuôi trâu, bò, ngựa, ong. Đặc biệt, đồng bào đã xây dựng được những điển hình là: phát triển ruộng bậc thang kết hợp với bảo vệ rừng ở nhiều xã thuộc huyện Mù Cang Chải; khai hoang ruộng nước kết hợp phát triển cây chè đặc sản của vùng cao như ở các xã: Suối Giàng, Suối Bu (huyện Văn Chấn) Púng Luông, Nậm Khắt (huyện Mù Cang Chải), Phình Hồ (huyện Trạm Tấu); làm ruộng, nương kết hợp với phát triển cây quế đặc sản ở các xã Nà Hẩu, Mỏ Vàng (huyện Văn Yên)...Nhờ đó, đời sống của đồng bào Mông Yên Bái đã từng bước ổn định và dần phát triển.

               

Người Hmông có nghề rèn rất nổi tiếng với kỹ thuật cao, đồng bào tự rèn dao, cuốc, tự đúc lưỡi cày và đồ trang sức của phụ nữ, đúc nhạc ngựa, chuông bò... Đồng bào còn làm các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình bằng gỗ như: thìa, bát, thùng, chậu… đan lát các đồ dùng như “Lù cở” (chiếc gùi), “Cáng chủa” (dụng cụ mang vác đồ), giỏ đựng cơm đi nương...

Do đặc điểm cư trú biệt lập nên người Hmông ít có quan hệ với dân tộc khác. Nếu có sống trên địa bàn xen cư với dân tộc khác thì người Hmông sống quần tụ lại với nhau thành thôn, bản riêng. Đồng bào Mông ở nhà đất, nguyên liệu chủ yếu là gỗ, mái nhà thường lợp bằng gỗ Pơ mu chẻ mỏng và hiện nay đã có một số nhà lợp mái phibrôximăng.

Hình thái chủ đạo của gia đình dân tộc Hmông là gia đình phụ hệ với loại gia đình nhỏ có hai thế hệ sống chung rất phổ biến. Gia đình người Mông là đơn vị kinh tế với sự phân công lao động rất chặt chẽ theo giới tính, lứa tuổi, đồng thời là một đơn vị văn hóa với môi trường trao truyền tích cực. Xã hội Hmông được tổ chức điều hành theo dòng họ khép kín, có luật lệ, quy định, ký hiệu riêng, mang tính quy ước cộng đồng thừa nhận và phải tuân thủ nghiêm ngặt. Dòng họ xã hội người Hmông còn khá quan trọng đối với sản xuất và đời sống, duy trì và lưu truyền phong tục tập quán. Người Hmông có nhiều họ, mỗi họ có nhiều dòng, mỗi dòng có nhiều chi khác nhau. Các gia đình cùng một dòng họ thường ở những cụm gần nhau. Trong bản người Hmông có vài dòng họ sinh sống nhưng thường có một dòng họ lớn. Dòng họ người Hmông có phạm vi cố kết rất rộng: bao gồm tất cả những người cùng họ, không phân biệt cư trú ở đâu. Người Hmông ở Yên Bái có thể nhận người cùng họ ở các tỉnh khác làm anh em. Người cùng họ khi đã nhận nhau được xem như anh em ruột thịt và không được phép kết hôn với nhau. Ở mỗi dòng họ có những kiêng kỵ và nghi lễ cúng bái. Ví dụ: họ Giàng kiêng ăn tim, họ Lý kiêng ăn lá lách...

Người Hmông ở Yên Bái có tín ngưỡng dân gian vô cùng phong phú và đặc sắc, ngoài thờ cúng tổ tiên, trong phạm vi ngôi nhà đồng bào còn thờ cả một hệ thống các thần bảo hộ gia đình, bảo vệ cho các thành viên trong nhà và của cải vật chất theo các quan niệm dân gian như thờ thần tài (xử cang – bàn thờ đặt chính giữa gian nhà chính), thần cột nhà “Bùa đăngz”, thần  cửa “Bùa trùngz”, thần bếp lò, thần bếp nấu ăn, thần bảo hộ thầy thuốc (của giêng các gia đình có nghề  bốc thuốc nam), thần bảo hộ cho thầy cúng…Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Hmông đặc biệt quan trọng và khác so với một số dân tộc thiểu số khác, đồng bào không có bàn thờ tổ tiên riêng mà mỗi khi có lễ cúng tổ tiên hay trong các dịp hệ trọng của gia đình người dân lập một bàn thờ cúng tổ tiên tại chính giữa ngôi nhà trước bàn thờ thần tài “xử cang”, sau lễ cúng bàn thờ tổ tiên được bỏ đi.

Lễ tang của người Hmông nhiều nghi lễ, phong tục tập quán khác nhau, phản ánh các quan niệm về lịch sử, xã hội, cộng đồng.  Người Hmông quan niệm mỗi con người có 3 vía (Plỳ) và 7 hồn (chua lua) (Cầu chua lua – Pê lỳ), hồn chỉ tồn tại khi con người còn sống, còn sau khi chết không còn hồn nữa. Tuy nhiên vía theo quan niệm của người dân vẫn tồn tại: một vía đi lên công quản (lên trời), một vía đi đầu thai thành người mới ở một nơi xa còn một vía sẽ ở quanh quẩn bên người chết và thỉnh thoảng về với gia đình khi có việc hệ trọng.

Người Hmông có kho tàng nghệ thuật dân gian rất phong phú, vào mùa xuân, các dịp tết Hmông ( Khoảng từ 30/11 âm lịch) hay trong các lễ cưới truyền thống người Hmông đều hát dân ca và múa khèn. Trong các làn điệu dân ca, đặc biệt nhất là loại hát kể chuyện lịch sử dân tộc gọi là hát “Thản chù”. Người Hmông có hát “Gầu Phềnh” - trai gái hát trong khi chơi Pa Pao, hát qua sợi chỉ nối với hai ống nứa bịt da ếch cho riêng hai người. Trong đám cưới còn có hát đố, hát giải. Cùng với hát, người Hmông còn có múa khèn rất đặc sắc. Trong hội “Gầu Tào”, múa khèn là nghi lễ mở hội. Ngoài khèn bè, người Hmông còn sử dụng đàn môi, khèn lá, kéo nhị, thổi sáo…

               

Với số lượng khá đông, cư trú ở một vị trí địa lý tương đối đặc biệt, người Hmông ở Yên Bái tự hào đóng góp một phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Lịch sử cho thấy, dân tộc Hmông vốn là một dân tộc có truyền thống đấu tranh chống giặc với tinh thần bất khuất, kiên cường. Ngay từ những năm 1888, đội quân người Hmông do Đào Chính Lục là thủ lĩnh đã bao vây đánh giặc Pháp ở Tú Lệ và Nghĩa Lộ khi chúng vào chiếm đóng Nghĩa Lộ. Nuôi giấu cán bộ cách mạng là công việc rất nguy hiểm song nhiều gia đình người Hmông đã che chở, nuôi giấu, bảo vệ nhiều cán bộ hoạt động cách mạng ở các địa bàn khác nhau.

Trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, huyện Mù Cang Chải có 3 đội du kích Cao Phạ, Chế Tạo, Lao Chải gồm 200 chiến sĩ du kích đã phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt 214 tên địch, thu hơn 100 vũ khí các loại. Xã Cao Phạ và huyện Mù Cang Chải được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong các thời kỳ cách mạng, người Hmông ở Yên Bái đã kề vai sát cánh cùng các dân tộc anh em chiến đấu góp công của cho hai cuộc kháng chiến, tham gia dân công hỏa tuyến, vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực cho các chiến trường Đông Bắc, Tây Bắc, chiến trường Lào.

Người Hmông với ý thức tự chủ cao, tính tình trung thực thẳng thắn, có đức tin bền vững, có truyền thống yêu nước và sự cần cù trong lao động. Nhờ những phẩm chất này mà cộng đồng người Mông đã tồn tại, phát triển trong quá trình biến thiên của lịch sử và vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
 Tác giả| Đăng lúc 5-3-2010 01:11 PM | Xem tất
Dân tộc Thái có khoảng 41.000 người chiếm 6,1% dân số tỉnh Yên Bái, 4 đơn vị hành chính phía Tây tỉnh là thị xã Nghĩa Lộ, các huyện: Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải là nơi người Thái tập trung sinh sống nhưng đông hơn cả là ở 11 xã gồm: Tú Lệ, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Thanh Lương, Phù Nham, Sơn A, Sơn Lương, Gia Hội và Nghĩa Phúc (huyện Văn Chấn), Nghĩa An, Nghĩa Lợi (thị xã Nghĩa Lộ). Riêng người Thái sinh sống ở Văn Chấn chiếm 89,6% tổng số người Thái ở Yên Bái. Ngoài ra, người Thái còn có ở 4 phường của thị xã Nghĩa Lộ; xã Hát Lừu (huyện Trạm Tấu) và một số ít ở huyện Mù Cang Chải.

Theo các nhà khoa học và căn cứ vào cuốn sử chép tay của người Thái “Quăm tô Mường” (chuyện kể bản mường) và “Táy Pú sấc” (Bước đường chinh chiến của cha ông) thì vào đầu thế kỷ XI, nhóm người Thái do anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần dẫn đầu đến Việt Nam, nơi đặt chân đầu tiên là Mường Min (xã Gia Hội, huyện Văn Chấn). “...bộ phận người Thái Đen từ Mường Ôm, Mường Ai thượng sông Hồng đầu tiên đến khai phá cánh đồng Mường Lò (Văn Chấn)…”

Ở Yên Bái, tên người Thái được dùng chính thức và phổ biến. Người Thái còn tự gọi mình là “Táy”, “ Táy Khao” là Thái Trắng, “ Táy Đăm” là Thái Đen. Để phân biệt “Táy Khao” và “Táy Đăm” chủ yếu dựa trên trang phục của phụ nữ và các đặc điểm về văn hoá truyền thống. Áo cỏm người Thái trắng thường may bằng vải bông màu trắng, cổ xẻ chạy xuống theo hình chữ V. Còn áo cỏm người Thái đen may bằng vải chàm đen, cổ áo đứng 3 phân ôm khít lấy cổ. Ngoài ra trong các ngày hội vui thiếu nữ Thái trắng thường đội khăn trắng hoặc nón Tát rộng vành, thiếu nữ Thái đen đội khăn piêu. Nón Tát và khăn piêu đều mang đậm sắc thái văn hóa, làm tăng vẻ duyên dáng của các cô gái Thái. Tiếng Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái và nằm trong dòng ngôn ngữ Nam Á. Chữ Thái xuất hiện từ rất lâu - khi Lò Lạng Chượng xưng chúa Mường, mở mang khai phá  Mường Lò, thiết lập xã hội người Thái, định ra luật tục...thì trong các Mo Mường đã ghi lại những sự việc này trên tre nứa, giấy dó, vỏ cây. Ngày nay ở Mường Lò còn rất ít người biết viết và biết đọc chữ Thái cổ.

Cộng đồng người Thái sống tập trung thành bản mường ở các thung lũng lòng chảo, không cách xa nhau, thích nghi với sở trường trồng lúa nước, trồng bông, dệt vải thổ cẩm. Một phần nhờ có truyền thống văn minh lúa nước của người Thái mà Yên Bái có được cánh đồng nổi tiếng là Mường Lò, Tú Lệ hay Mường Than, Mường Tấc trước đây. Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt người Thái sử dụng nhiều lúa nếp. Người Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, tạo mương, bắc máng đưa nước vào ruộng. Một phần thu nhập nữa là do chăn nuôi gia súc, thủy sản. Cá ruộng là yếu tố đặc sắc của văn hóa Tày – Thái.  Nghề thủ công truyền thống của đồng bào Thái là làm đệm bông lau, dệt vải thổ cẩm với những họa tiết hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ và có chất lượng tốt.

Kinh tế truyền thống của người Thái Mường Lò là nền kinh tế trồng trọt và chăn nuôi. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi quanh năm mưa thuận gió hoà kết hợp với các kỹ thuật canh tác truyền thống (Người Thái đen nơi đây nổi tiếng với các kỹ thuật canh tác như các phương pháp "dẫn thuỷ nhập điền" bằng hệ thống mương - phai - lái - lín, mà trong đó chiếc cọn nước là một phát minh lớn của đồng bào trong việc lợi dụng chính sức nước để đưa nước từ thấp lên cao, bằng phương pháp "Hoả- Canh-Thuỷ- Nậu" (đốt rơm rạ cày bừa sản xuất nông nghiệp”. Cùng với trồng trọt thì chăn nuôi cũng được phát triển rất mạnh tại đây, như trâu, bò, dê, ngựa…Bên cạnh gia súc, thì gia cầm, thuỷ cầm là nguồn thực phẩm chính được chăn nuôi để cải thiện các bữa ăn hàng ngày nhất là trong các dịp lễ, tết, hội. Trước đây săn bắt hái lượm đã mang lại nguồn thực phẩm chủ yếu cho đồng bào, ngày nay nghề săn bắt cá vẫn còn khá phổ biến trong cộng đồng người Thái ở Mường Lò với nhiều kỹ thuật đánh bắt điêu luyện.

            Người Thái Mường Lò phát triển nhiều nghề thủ công truyền thống trước hết để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình sau đó dùng để trao đổi hàng hoá với các dân tộc khác. Đến nay, tại vùng Mường Lò, nghề dệt thổ cẩm, thêu may quần áo thổ cẩm, chăn đệm, gối bông lau và các đồ dùng gia dụng khác phát triển khá mạnh. Các nghề thủ công truyền thống khác như đan lát, rèn đúc, mộc cũng được phát triển nhanh, các sản phẩm của đồng bào tự làm ra có giá trị khá cao cả về thẩm mỹ, văn hoá và giá trị sử dụng.

Người Thái Yên Bái ở nhà sàn, hai đầu hồi nhà có 2 “khau cút”. Trong nhà đáng chú ý là chiếc cột sàn hóng luông đặt bàn thờ ma hay tổ tiên (khô hóng). Nơi này chỉ có người chủ gia đình là nam giới được nằm. Nhà sàn Thái trước đây chủ yếu lợp bằng giang và ván thông, ngày nay theo sự phát triển, vật liệu lợp nhà dần dần đã được thay thế bằng các loại mới như ngói, và tấm lợp.

Gia đình người Thái thường có 3 đến 4 thế hệ chung sống đầm ấm, ngày nay mỗi gia đình thường có từ 1 đến 3 thế hệ, các gia đình lớn “tứ đại” không còn thấy xuất hiện nhiều trong các bản làng người Thái ở Yên Bái. Gia đình người Thái có tính bền chặt cao, vợ chồng sống chung thuỷ, ít mâu thuẫn  bởi các giá trị trong truyền thống gia đình được quy định và điều chỉnh bằng những luật tục hết sức chặt chẽ. Tục ở rể vẫn còn phổ biến, ở cho đến khi vợ chồng trẻ có con mới về nhà chồng. Lễ hỏi cưới được chuẩn bị từ nhiều tháng trước, nhà trai lo các lễ vật đi dạm hỏi, nhà gái lo đủ 3 bộ chăn đệm gánh về nhà trai trong ngày cưới. Trong đó có đủ chăn, đệm, gối gánh riêng cho bố mẹ chồng. Thiếu nữ Thái đen khi chưa lấy chồng thì búi tóc ngả về phía sau, khi đã xây dựng gia đình thì tóc được búi thẳng đứng, gọi là tằng cẩu. Lễ tằng cẩu diễn ra rất thiêng liêng xúc động ngay khi cô dâu về đến nhà chồng.

Tín ngưỡng truyền thống của người Thái Mường Lò hết sức phong phú và đa dạng. Ngoài thờ cúng tổ tiên (hay còn gọi là ma nhà phi hươn), thì người Thái còn thờ các thần thánh khác như thờ cúng bản mường, ruộng đồng, thờ thần then của các dòng họ có người làm ma then… Đồng bào quan niệm chết là tiếp tục sống ở thế giới bên kia nên đám ma là lễ tiễn đưa người chết về “Mường trời”. Lễ tang của người Thái trắng diễn ra thông thường như các dân tộc khác là tiễn đưa người quá cố chôn cất sau khi mất, còn người Thái đen có tục  thiêu xác.

Lễ hội dân gian là một phần thiết yếu trong sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của người Thái vùng Mường Lò, theo chu kỳ một năm, đồng bào có nhiều lễ hội lớn mang tính chất cộng động làng bản như; lễ xên bản, xên mường, xên đông, lễ hội cầu mưa, lễ hội xuống đồng, lễ hội xên lẩu nó, lễ hội xé then…cho tới các lễ hội trong phạm vi gia đình như các nghi thức cúng vía “tám khuôn”, các lễ cúng ruộng “tám tế na”, cúng vía trâu “tám khuôn quai” hay các nghi thức khác liên quan tới thờ cúng tổ tiên và các nghi thức gia đình mà trong đó tết “Síp xí” rằm tháng bảy là một trong những tết lớn nhất của người Thái ở Yên Bái.

Người Thái Yên Bái có kho tàng nghệ thuật dân gian rất phong phú. Các  làn  điệu dân ca, dân vũ, sinh hoạt văn hoá dân gian được tổ chức thường xuyên trong đời sống hàng ngày của người dân. “ Khắp”, “ Then” được thể hiện trong các hội xuân, hát gọi người yêu, đám cưới, đám tang. Đồng bào Thái Mường Lò có phong cách sống bình lặng nhưng lãng mạng, yêu thích các sinh hoạt cộng đồng, sẵn sàng tham gia các cuộc vui nhất là các đêm “khắp báo xao” (hát đối đáp), hội xòe, hội nàng Han, hội chơi hang Thẩm Lé vào tháng giêng, nhiều trò chơi như “Hạn khuống”, ném còn, đánh yến, “Tómáklẹ” (chọi quả lẹ)...

Người Thái có các loại nhạc cụ dân tộc vẫn được lưu truyền như khèn bè và 7 loại Pí (sáo) rất độc đáo như “ Pí Tót” là loại sáo chỉ một lỗ, “ Pí Pặp” là sáo của tình yêu dùng để gọi nhau tâm tình, “Pí Rạ” dùng ống rạ để thổi vv ...

Văn học Thái khá phong phú, sinh động, hấp dẫn. Ngoài các thiên tình ca nổi tiếng như “Sóng trụ xôn xao” (tiễn dặn người yêu), tản chụ siết sương...các cuốn biên sử, thi sử bằng chữ Thái như: Quăm Tố Mương (chuyện kể bản mường), Cầm Hánh Tạp sấc klơng (Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng)...nói lên lịch sử di thiên và truyền thống văn hoá của đồng bào Thái vùng Nghĩa Lộ - Văn Chấn.

Tắm suối là tập quán lâu đời của đồng bào Thái nhất là đối với phụ nữ và thiếu nữ. Suối Nung, suối nước nóng ở Sơn A, Tú lệ là nơi diễn ra sinh hoạt văn hóa có nhiều nét riêng biệt này.

Người Thái mặc áo cỏm và váy dài, trang phục, trang sức của người Thái Mường Lò rất đặc sắc. Người Thái là một trong những dân tộc được xem là khá cầu kỳ trong ăn mặc, ngay từ nhỏ các bé gái đã được mẹ hướng dẫn thắt “ Xài ẻo” để lớn lên có cơ thể “ Eo kíu Meng Po” (thắt đáy lưng con tò vò) trước khi tham gia các cuộc vui ngoài bộ váy áo cỏm, phụ nữ Thái còn chú ý đến “Tằng cẩu” và vòng cổ tay, xà tích (dây bạc). Thiếu nữ Thái đen chú ý đến nếp gấp khăn piêu, thiếu nữ Thái trắng ở Tú Lệ quan tâm đến khuôn mặt, mái tóc, hàng “ Mắc pém” trên ngực. Nam giới thì đơn giản hơn, họ ít bận tâm đến trang phục, ít tham gia vào cuộc múa xòe tập thể hay các trò chơi khác mà ham bắt cá suối và bẫy chim.

Sinh hoạt ẩm thực của đồng bào Thái cũng khá cầu kỳ trong cách chế biến, sắp đặt, sử dụng gia vị và các phụ gia, gia vị nào đi theo món ăn đó, một món ăn của người Thái thường được chế biến khá công phu với các kỹ thuật chế biến làm sao không mất đi các hương vị đặc trưng của món ăn. Cách chế biến của người Thái có nhiều loại như nướng, lam, xôi, đồ, ủ, hấp, luộc, sấy, xào, rán và ăn sống trong đó cách xôi và nướng, lam, sấy được đồng bào sử dụng nhiều hơn cả. Cá là một thực phẩm khá phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày của người dân trong đó món cá nướng “Pa Pỉnh tộp” là một đặc sản nổi tiếng của người Thái Nghĩa Lộ

Đồng bào Thái tự hào với nguồn gốc lịch sử dân tộc, với truyền thống đấu tranh anh dũng và tự hào là cư dân nông nghiệp có nền văn minh lúa nước lâu đời. Đồng bào đoàn kết với các dân tộc anh em vươn lên xóa đói, giảm nghèo góp phần đưa tỉnh Yên Bái trở thành tỉnh giàu mạnh.
 Tác giả| Đăng lúc 5-3-2010 01:12 PM | Xem tất
DÂN TỘC MƯỜNG



Đồng bào Mường ở Yên Bái có khoảng 14.000 người, chiếm 1,92% dân số toàn tỉnh, sinh sống tập trung ở 11 xã của huyện Văn Chấn, thị xã Nghĩa Lộ và xã Quy Mông huyện Trấn Yên. Ngoài ra còn cư trú rải rác ở các huyện khác trong tỉnh. Ở Yên Bái, đồng bào chỉ có duy nhất một tên gọi dân tộc mình là “Mường”.

Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (dòng ngôn ngữ Nam Á). Trong gia đình, giao lưu văn hóa, tiếng Mường ở Yên Bái chịu nhiều ảnh hưởng của tiếng Kinh. Đến nay ở Yên Bái chưa phát hiện bộ chữ Mường nào mặc dù theo bộ sử thi dân gian “Đẻ đất, đẻ nước” thì người Mường có chữ viết cổ của mình.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, người Kinh và người Mường có chung nguồn gốc là cư dân bản địa ở nước ta. Do những nguyên nhân lịch sử, từ khối cộng đồng chung người Mường và người Kinh phân thành 2 dân tộc như hiện nay. Dân tộc Mường sinh sống tập trung đông nhất ở các tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa.

Người Mường ở Yên Bái chủ yếu di cư từ huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ lên từ 300 – 400 năm; một số ít di cư từ huyện Phù Yên tỉnh Sơn La sang.

Đồng bào Mường Yên Bái cư trú chủ yếu trên các thung lũng ven suối, nguồn sống chính của đồng bào dựa vào nông nghiệp, trong  đó phần lớn làm ruộng nước. Lúa nước là cây lương thực chính. Ngoài ra cũng làm thêm nương rẫy và trồng các loại cây màu khác như: ngô, khoai, sắn. Đồng bào Mường có nhiều kinh nghiệm làm thủy lợi nhỏ. Để đưa nước vào đồng ruộng, đồng bào thường đắp mương, phai, làm cọn nước. Trước đây hoa màu chủ yếu trồng trên nương nhưng nay đồng bào đã tận dụng thời gian giữa 2 vụ xuân của đất ruộng trồng thêm vụ màu. Cùng với sự cần cù, sáng tạo trong lao động và ứng dụng các khoa học, kỹ thuật , đưa giống mới vào đồng ruộng, ở nhiều nơi đồng bào đã chuyển từ 2 vụ sang 3 vụ lúa màu/năm. Năng suất lúa ruộng đạt bình quân đạt 7-8 tấn/ha, có xã đạt 10 tấn/ha, vụ ngô đông cũng cho năng suất khá cao: 35 tạ/ha.

Những năm gần đây thực hiện chính sách giao đất giao rừng của Nhà nước, đồng bào Mường đã tích cực phát triển nghề rừng, trồng các loại cây công nghiệp như chè, quế, cà phê, chăn nuôi gia súc, gia cầm như: lợn, gà, trâu, bò...góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của đồng bào. Người Mường ở thị xã Nghĩa Lộ còn có thêm thu nhập từ nghề dệt thổ cẩm truyền thống.

Đồng bào Mường ở Yên Bái có truyền thống yêu nước, đoàn kết và gắn bó với cộng đồng các dân tộc Việt Nam nhất là các dân tộc sinh sống cận kề như Kinh, Tày, Thái...Ngày nay quan hệ giữa dân tộc Mường và các dân tộc khác không chỉ được gắn bó bởi quan hệ truyền thống mà có thêm các mối liên hệ khác như thông gia, kết nghĩa.

Dân tộc Mường có nền văn hóa khá phong phú và đặc sắc. Đồng bào thường ở nhà sàn, dáng nhà chững chạc bề thế, thường từ ba đến năm gian, lợp ván thông hoặc gianh. Nếu nhà sàn Thái có Khau Cút làm biểu tượng thì đặc điểm ở nhà sàn Mường là có 2 cầu thang, cầu thang chính đối diện cổng vào, có hàng song trông như những tấm mắt cáo, hàng song vừa có ý nghĩa giữ an toàn cho người, vừa có ý nghĩa trang trí mỹ thuật. Còn cầu thang phụ ở phía cuối nhà chủ yếu để phụ nữ đi lại.

Trang phục của nam giới thông thường như người Tày, người Thái, quần áo sơi cánh chàm gài khuy vải, còn trang phục phụ nữ rất giống phụ nữ Thái đen: áo Xửa cỏm (thiếu nữ mặc màu trắng, tuổi trung niên màu đen), thắt lưng xanh Xài ẻo, dây bạc xà tích, váy lụa đen. Các nét khác là: Cổ áo trước đây hình chữ V, nay chuyển sang cổ đứng, quanh cổ áo cỏm đứng viền một lượt vải màu xanh hoặc đỏ, hàng cúc thường mang hình đôi ve sầu trông thô đậm hơn đôi bướm. Thiếu nữ không có khăn Piêu, phụ nữ không có tục Tằng cẩu mà đội khăn đen hai đầu khăn khâu chỉ đỏ, chỉ trắng, chỉ xanh; váy lụa đen dài hơn váy Thái kéo cao đến nách và có cạp màu vải xanh đỏ, trên và dưới gấu váy. Như vậy trang phục phụ nữ Mường Văn Chấn – Yên Bái có ảnh hưởng nhiều của trang phục Thái đen trên cùng địa bàn sinh sống.

Người Mường ở Yên Bái tuy không có chế độ lang đạo và các dòng họ lang đạo Đinh, Quách, Bạch, Hà phân chia cư trú tại các vùng như tỉnh bạn song họ có mối liên hệ rộng và chặt chẽ. Những họ lớn như Hà, Hoàng, Đinh, Phùng có ảnh hưởng không nhỏ tạo nên mối quan hệ đồng tộc trong cộng dồng người Mường ở địa phương.

Tục thờ cúng của đồng bào khá đơn giản, xếp theo thứ tự thờ tổ tiên, bản mường, thổ công, thờ thần linh. Nơi thờ tự tổ tiên thường đặt trên tấm sàn cao sát mái nhà ở mặt tiền gian thứ hai, nơi này chỉ có vị chủ nhà là nam giới hoặc khách quý mới được ngồi hoặc nằm nghỉ. Thờ thổ công đặt ở đầu cầu thang lên, còn thần linh thì lập miếu nhỏ ở ngoài vườn phía đầu trái nhà sàn, vật thờ cúng thường là cơm, rượu, thịt, bánh, hoa quả.

Trong quan niệm tâm linh của người Mường Văn Chấn, trên trời có “Mường trời”. Ngày hội lễ cầu cúng gần với người Kinh nhất là tết Nguyên đán, sau tết là lễ hội Thẩm Han tưởng nhớ nàng Han, nhân vật truyền thuyết của người Mường Văn Chấn có công đánh giặc giữ đất. Riêng rằm tháng bảy thì ảnh hưởng tết síplxí của người Thái, các lễ khác như lễ hội xuống đồng (Khuông mùa), lễ hội cầu mưa (vào tháng tư), lễ rửa lá lúa (tháng 7,8)...chủ yếu là sinh hoạt của Mường Hòa Bình và Thanh Hóa, ít có ở Yên Bái.

Các điệu múa đặc trưng của đồng bào Mường Yên Bái là múa mỡi, múa nàng tiên, múa trống tu. Sau tết mọi người cùng tổ chức vui múa mừng năm mới có nhiều điều tốt đẹp. Đối tượng được mời trong điệu múa là thầy mo, mời thầy mo ra sàn diễn uống rượu và cùng nhẩy múa. Nhạc cụ phục vụ cho múa là bốn ống nứa do bốn diễn viên cầm dùng đầu ống xuống sàn nhà được tạo thành âm thanh; một chiếc trống cái và một chiêng đồng đánh theo nhịp múa; một cây bông làm bằng giấy hoặc vải và một mâm hoa quả có hương nhụy làm tăng sự linh thiêng cho các đường múa của vị mường mo. Mọi người vui vẻ múa vòng quanh thầy mo, diễn viên khéo léo mô phỏng thể hiện các động tác trồng lúa, gặt lúa, mời cơm, mời rượu, rồi một số động tác săn bắn, bắt cá suối, trồng bông dệt vải vv...còn thầy mo thì làm động tác ngồi uống rượu nghiêng ngả theo các nhịp múa. Múa mỡi thể hiện chất lãng mạn của con người, con người luôn cầu mong có thần linh phù trợ để hòa nhập với trời đất làm cho mùa màng tươi tốt, chim thú đầy đồng, đầy sân, nhà nhà vui tươi khỏe mạnh. Ngoài múa mỡi người Mường thường sử dụng nhạc cụ độc đáo như: đàn môi, dây nói ví, pí ôi, đàn tính có giai điệu riêng...

Sinh hoạt ăn uống của người Mường cũng đậm nét văn hóa ẩm thực. Cơm tẻ là lương thực chính, cá suối to mổ phía lưng thành hai mảnh rồi đem nướng, ngoài cá suối nướng còn có cá ướp thính, cá làm mọc, thịt trâu sấy khô, và nhiều món ăn như người Thái, người Tày. Về bánh: người Mường không thể thiếu bánh ống, bánh ống gói bằng gạo nếp trông gần như bánh chưng của người Tày nhưng chỉ buộc năm lạt gọi là Phẻn oổng. Mỗi dòng họ trong đồng bào Mường lại có tục ăn kiêng khác nhau. Họ Hoàng kiêng ăn thịt chim chích chòe, họa my, cuốc, họ Phùng kiêng ăn thịt hổ, mèo...

Lễ hỏi – cưới của dân tộc Mường diễn ra theo các bước: chạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới. Trước ngày cưới cô gái phải chuẩn bị từ ba đến năm bộ chăn, gối, đệm đưa về nhà chồng, số của hồi môn tự tay nhà gái làm ra này sẽ tặng cho từng người: Bố, mẹ, chồng, ông bà nội nếu có, còn nhà trai phải lo các lễ vật bạc trắng, một đôi yếm và bốn sải vải, rượu, gạo, thịt, đôi vòng tay vòng cổ bằng bạc cho cô dâu và mẹ vợ. Ngày cưới nhà trai phải lo đủ số mâm cỗ mà nhà gái yêu cầu, cử người sang đun nấu mời nhà gái ăn. Chú rể có thể ở rể hoặc không ở rể tùy theo yêu cầu của nhà gái. Ngày nay, các lễ vật có giảm hơn, hai bên gia đình bàn bạc thống nhất tổ chức lễ hỏi cưới cho  phù hợp.

Đám tang của người Mường Yên Bái đơn giản, chủ yếu theo sách Thọ mai gia lễ, chỉ riêng có tục đi cầu là phải duy trì. Tục này sử dụng một tấm vải trắng dài khoảng năm mét, mọi con cháu nâng trên vai từ lúc truy điệu đến lúc hạ huyệt cho hồn người chết về mường trời được thanh thản. Trước đó ông mo cắt mỗi con cháu một nhúm tóc nhỏ bỏ vào chiếc nong đặt bên áo quan. Sau ba ngày có tục mở cửa mả, nghĩa là làm nhà mộ, trồng cây sả, cây gừng quanh mộ người quá cố.

Văn học dân tộc Mường Việt Nam nói chung rất nổi tiếng. Bộ sử thi: Đẻ đất đẻ nước, bộ mo thi mo Mường và bộ đang “vần va” có ảnh hưởng sâu sắc đến người Mường ở các địa phương.

Đồng bào Mường Yên Bái coi các bộ thi ca trên là niềm tự hào của dân tộc mình và truyền tụng chúng rộng rãi trong dân gian. Các nghệ nhân Mường Ao Luông (xã Sơn A – Văn Chấn) nay vẫn thuộc và hát những chương trong “Đẻ đất, đẻ nước” hay “vần va”. Bên cạnh kho tàng văn nghệ dân gian chung của cả dân tộc, người Mường ở Văn Chấn còn có sự tích Ao Luông, truyện Nàng Han, Truyện kể về các Mường như: Mường Cúc, Mường Đồng, Mường Sang, Mường Át...Đồng bào còn có nhiều điệu múa hát cổ truyền như hát đang, hát ví...

Là thiếu sót nếu như không kể đến các bài cúng của ông mo, đặc biệt là bộ mo lên trời (mo đưa người chết về Mường trời). Giá trị tư tưởng của Mường lên trời là lòng nhân ái. Ông mo dẫn dắt mọi người đi vào một xã hội hư ảo tốt đẹp, ở đó con người sống có tình cảm, có sự đùm bọc và chăm lo lẫn nhau, mo dạy “ăn cơm cháu phải chào, uống rượu cháu phải thưa, chẳng thưa chào người ta bảo xấu nết”. Những lời như thế trong văn học dân gian Mường, thực sự là động lực tinh thần, góp phần xây dựng gía trị văn hóa làng bản và đời sống văn hóa xã hội của đồng bào Mường ở Yên Bái.

Đồng bào Mường có truyền thống yêu nước, yêu quê hương. Giữa năm 1945 trong bối cảnh quân Nhật và tay sai của chúng hoang mang tan rã, chủ trương của ta tăng cường hoạt động du kích để giải phóng Mường Lò. Dựa vào các hội viên cứu quốc, huy động được đông đảo quần chúng nhân dân trong đó có rất đông đồng bào Mường phá các kho thóc ở Sơn A, Gốc Bục...chia cho dân.

Tháng 7 – 1945 sau khi giải phóng Mường Lò, đồng bào Mường đã cùng các dân tộc Tày, Thái, Kinh ở Mường Lò vót chông cắm khắp vùng chống lính Pháp nhảy dù. Trong những năm kháng chiến chống Pháp đồng bào tản cư thực hiện “vườn không nhà chống”. Thanh niên Mường ở lại cùng đội du kích phối hợp với bộ đội chủ lực diệt đồn giặc. Trong những ngày đầu chống Pháp với vũ khí thô sơ là chiếc nỏ, anh Đinh Văn Thọ cùng tổ du kích xã Quy Mông (Trấn Yên) đã diệt được một tên quan ba Pháp và làm kinh hồn toán lính Pháp.

Đầu năm 1947 chi bộ Đảng trong vùng người Mường đầu tiên được thành lập do Đinh Văn Qui là Bí thư đầu tiên. Đến tháng 10-1947 anh bị bắt và hy sinh. Cùng trong thời gian này chi bộ Đảng ở xã phúc Sơn, Thanh Lương (Văn Chấn) được thành lập. Chi bộ Đảng trong vùng đồng bào Mường tham gia cách mạng. Đó là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự tiến triển trong quá trình vận động cách mạng.

Người Mường ở Sơn A, Thanh Lương và một số nơi xây dựng các làng chiến đấu vừa làm nhiệm vụ chiến đấu vừa có nhiệm vụ sản xuất sau lưng địch. Đồng bào Mường không chỉ làm nhiệm vụ đánh giặc và sản xuất trên quê hương mình mà còn tham gia vào bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương chiến đấu ở các chiến trường.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp nhiều gia đình đã nuôi giấu cán bộ xây dựng cơ sở vùng địch tạm chiếm. Hàng trăm thanh niên đã lên đường cầm súng đánh giặc Pháp, Mỹ, biên giới phía Bắc...Theo thống kê chưa đầy đủ, trong đồng bào dân tộc Mường ở Yên Bái có hơn 100 liệt sĩ, 50 thương binh. Người Mường đã được tặng gần 1000 huân, huy chương các loại. Mẹ Hà Thị É (xã Sơn Thịnh, Văn Chấn) được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Tự hào về truyền thống đấu tranh anh dũng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và trong sự nghiệp đổi mới; ngày nay đồng bào Mường Yên Bái vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực cùng các dân tộc anh em thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên quê hương Yên Bái.
 Tác giả| Đăng lúc 5-3-2010 01:12 PM | Xem tất
DÂN TỘC NÙNG

  

Dân tộc Nùng ở Yên Bái có khoảng 13.000 người chiếm 1,86% dân số toàn tỉnh cư trú xen kẽ với các dân tộc Tày, Mường, Kinh, Dao, Sán Chay,... ở rải rác hầu hết các huyện trong tỉnh. Nơi tập trung đông nhất là huyện Lục Yên và huyện Yên Bình. Tại huyện Lục Yên đồng bào Nùng cư trú tại xã 24/24 xã. Tập trung ở các xã Phan Thanh: 65%; Khánh Hòa: 33%; Liễu Đô: 26%; Yên Thắng: 16% dân số của xã. Tại huyện Yên Bình, đồng bào Nùng cư trú tập trung ở các xã Tân Nguyên, Bảo Ái, Cẩm Ân, Xuân Lai, Phúc Ninh, thị trấn Yên Bình.

Dân tộc Nùng ở Yên Bái chủ yếu thuộc hai nhóm Nùng An và Nùng Phủ (tên chỉ nhóm địa phương của người Nùng).

          Người Nùng Yên Bái có tiếng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (dòng ngôn ngữ Nam Á) và có chữ viết từ rất sớm – chữ Nôm Nùng. Ngày nay, chữ Nôm Nùng hầu như không được sử dụng, chỉ có một số người già và người làm nghề thầy cúng còn biết (bài Mo Nùng còn ghi lại bằng chữ Nôm trên giấy bản. Gia phả nhiều dòng họ còn giữ lại cũng ghi bằng chữ Nôm Nùng).

            Người Nùng An và người Nùng Phủ có phong tục tập quán cơ bản giống nhau nhưng có sự khác nhau về tiếng nói. Tiếng Nùng An phát âm gần như tiếng Cao Lan – Sán Chay và tiếng Giáy. Tiếng nói người Nùng Phủ ảnh hưởng âm sắc của tiếng Tày.

            Ở Yên Bái có một bộ phận nhỏ người Nùng có nguồn gốc từ người Kinh, trong quá trình sống xen kẽ và giao lưu văn hóa họ tự nhận mình là người Nùng, nói tiếng Nùng, ăn ở và sinh hoạt theo phong tục người Nùng.

            Dân tộc Nùng mang các họ: Nông, Mông, Hoàng.

          Do địa bàn cư trú của người Nùng ở nơi có nhiều rừng, núi và ở khoảng giữa là thung lũng lòng chảo nên đồng bào Nùng rất thành thạo trong khai thác đất đồi, làm nương rẫy; đất bằng đồng bào trồng lúa nước.

Nguồn sống chính của đồng bào Nùng Yên Bái dựa vào cây lúa: lúa nước và lúa nương. Đồng bào dùng công cụ có sức kéo như cày, bừa,...hệ thống cọn nước, mương tưới nước cho ruộng...kết hợp với khoa học kỹ thuật mới, thâm canh tăng vụ, sử dụng giống mới, phân hóa học, thuốc trừ sâu, cải tạo vườn tạp, trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao nên hiệu quả kinh tế trên đất canh tác đã được nâng lên rất nhiều. Ngoài nguồn lương thực thu được từ cây lúa, đồng bào Nùng còn có thu được nhiều sản phẩm nông sản như ngô, sắn và các hoa màu khác.

Nguồn thu chủ lực của gia đình người Nùng phải kể đến chăn nuôi. Đồng bào phát triển chăn nuôi cả trên cạn và dưới nước. Gia súc như trâu, bò, lợn và gia cầm như gà, vịt, ngan là vật nuôi phổ biến. Diện tích mặt nước đồng bào dùng để nuôi cá, vịt, ngan, ngỗng.

Nghề thủ công truyền thống của đồng bào Nùng vẫn được duy trì phát triển như nghề mộc: làm giường, tủ, bàn, ghế, nghề rèn, các công cụ sản xuất như dao, cuốc, lưỡi cày... nghề đan lát; các đồ dùng đồ đựng bằng tre, nứa...

Đồng bào Nùng Yên Bái tham gia tích cực vào phong trào trồng rừng và bảo vệ rừng. Ngoài trồng các cây lấy gỗ, đồng bào cũng rất tích cực hưởng ứng trồng các loại cây công nghiệp như quế, sắn; cây ăn quả có giá trị cao như cam, hồng, quýt,...

Do sản xuất phát triển, giao lưu hàng hóa mở rộng và được Nhà nước đầu tư, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng nên đời sống người Nùng ngày càng được cải thiện. Nhiều hộ vươn lên có mức sống khá, sắm sửa các tiện ghi đắt tiền phục vụ sản xuất và đời sống như: xe ô tô tải, máy xát liên hoàn, xuồng máy, xe máy, ti vi, radiô...

Người Nùng Yên Bái ở nhà sàn: 3 gian, 5 gian, 7 gian. Hiện nay có một số ít làm nhà đất.

Trang phục người Nùng không văn hoa sặc sỡ. Phụ nữ Nùng mặc áo năm thân màu chàm, áo ngắn đủ che mông, áo được may rất rộng cả phần thân và tay, giúp cho cử động được thoải mái. Chiếc áo của phụ nữ Nùng được trang trí bằng cách thêm miếng vải khác màu vào cổ tay áo và phía trước ngực, thông thường là vải đen đắp lên áo chàm. Một bộ phận nữ Nùng ở Lục Yên mặc áo chàm dài quá đầu gối. Áo nam giới Nùng dài ngang hông, tứ thân, may áo gần sát người, tay áo dài và rộng, cổ áo khoét tròn, áo có 7 cúc và thường có 4 túi hoặc 2 túi.

Trong gia đình người Nùng, bàn thờ là nơi tôn nghiêm nhất mà gia đình nào cũng phải có. Bàn thờ thờ quan Thế âm Bồ Tát hoặc Hắc hổ huyền đàn (đồng bào gọi là thờ Ham); thờ tổ tiên và thờ Hoa vương Thánh mẫu (bà Mụ). Trong gia đình có người làm thầy cúng thì thờ thêm tổ sư của người cúng, bát hương để ở chỗ cao hơn bát hương thờ tổ tiên. Gia đình có người làm thầy thuốc làm thêm bát hương Quan thái y.

Bất cứ gia đình người Nùng nào cũng thờ quan Phật trong nhà, có họ thờ quan Thế âm Bồ Tát, có họ thờ Ham. Đồng bào Nùng cho rằng có 2 vị thần này rất thiêng, có thể giúp gia đình diệt trừ yêu ma.

Thờ tổ tiên của người Nùng theo tộc hệ 9 đời nhưng chỉ thờ đến đời thứ 3: bắt đầu từ đời cha, cụ. Đời thứ 4 tức kỵ, tổ tiên biến thành thần giữ gia súc, đồng bào thường cúng ngoài trời trong dịp tết Nguyên đán. Thường khi cha mẹ mới mất, gia đình lập bài vị riêng, hàng ngày cúng cơm nước để tỏ lòng nhớ đến người đã mất, sau mãn tang, người ta lập một bát hương riêng để ở bàn thờ để chỗ thấp hơn, khi cha mẹ đã quy tiên hết thì bỏ đi, coi như đã nhập vào tổ tiên chung.

Đồng bào Nùng ở Yên Bái có tục thờ bà Mụ tức Hoa vương Thánh mẫu trong nhà để bảo vệ trẻ em. Bàn thờ được lập khi hai vợ chồng bắt đầu sinh con, đến khi con được 13 tuổi thì thôi. Táo quân là một vị thần được người Nùng thờ trong nhà, bàn thờ ở cạnh bếp. Người Nùng còn thờ thần thổ địa của từng gia đình mang theo từ nơi cũ khi họ di cư đến nơi đất khác. Những thần này thờ ngoài sân phơi hoặc là một bát hương đặt trên bục xây ngoài trời.

Ở bản của người Nùng còn thờ Thổ công của bản, xã, thờ Thành Hoàng – vị thần có nhiệm vụ bảo vệ mùa màng và gia súc. Đồng bào thờ những người có công giúp dân khai phá ruộng nương, xây dựng mường bản.

Những tục thờ cúng trên minh họa tín ngưỡng của đồng bào Nùng mang đậm màu sắc tín ngưỡng đa thần nguyên thủy xen lẫn với những yếu tố Đạo Giáo, Phật giáo, Khổng giáo. Hiện nay ở vùng đồng bào Nùng sinh sống hầu như đã bỏ hẳn tục thờ Thành hoàng nhưng tục thờ Thổ địa, thờ các vị thần trong nhà vẫn không có gì thay đổi đã gắn liền với tập quán sinh hoạt của đồng bào từ lâu đời.

Giống như người Thái, đồng bào Nùng ở Yên Bái có 2 tết lớn nhất trong năm là tết Nguyên đán và tết 14/7 (Sipslxi). Ngoài ra, đồng bào còn ăn tết vào các dịp: 3/3- tết Thanh minh; 5/5 tết Đoan ngọ, đồng bào ăn mừng đã cấy xong vụ mùa, dịp này đồng bào còn đi hái cây thuốc; 6/6 lúc này lúa đã lên xanh, đồng bào tổ chức tết cúng thần ruộng, thần trâu, bảo vệ mùa màng, gia súc; tết trung thu 15/8; 10/10 khi vụ mùa đã gặt xong, đồng bào tổ chức ăn mừng thành quả lao động.

Những ngày tết của đồng bào Nùng ở Yên Bái đều mang ý nghĩa lành mạnh thể hiện sự mong muốn của người dân lao động cho mùa màng tốt tươi, đời sống ấm no hạnh phúc; đồng thời cũng là dịp cải thiện đời sống của người lao động sau những ngày vất vả trên đồng ruộng, nương rẫy.

Đồng bào Nùng có tổ chức mừng sinh nhật, không có tục giỗ, thông thường những người từ 60 tuổi trở lên được tổ chức lễ sinh nhật. Lễ sinh nhật đầu tiên được tổ chức rất trang trọng, mời thầy cúng, họ hàng nội ngoại, con cháu, các gia đình trong bản và bạn bè thân thiết. Tổ chức những lần sau không mời lại nữa, những ai đã được mời rồi cứ đúng ngày, tháng năm sau đến dự.

Cưới xin là việc trăm năm của con người, do vậy đồng bào Nùng rất coi trọng việc thực hiện các nghi lễ, trai gái Nùng đến tuổi se duyên phải được làm các lễ chính là: lễ dạm hỏi “Khắm lùa” là lễ thăm dò thái độ của nhà gái do nhà trai chủ động tiến hành; lễ “Au mình” nhà trai trả lời chính thức, nhà trai xin tuổi cô gái về để so tuổi với chàng trai; lễ “Mình hom”: hai nhà thỏa thuận về thời gian – lễ vật để làm lễ đính hôn; lễ “khả cáy”: là lễ đính hôn chính thức. Trong tục lệ cưới xin, vai trò của ông mối, bà mối hết sức quan trọng. Tổ chức xong đám cưới, theo tục lệ họ trở thành bố mẹ nuôi của cô dâu, chú rể. Đôi vợ chồng này phải có trách nhiệm như đối với cha mẹ đẻ mình.

Trong các đám cưới của người Nùng, trung tâm vui nhộn là các cuộc hát đối, tiếng Nùng gọi là “Cỏ Lảu” người hát thuộc lòng một số câu hát mẫu song còn phải có tài ứng đáp. Nhạc cụ sử dụng đàn tính 2 dây hoặc 3 dây, não bạt, chũm chọe. Mỹ thuật truyền thống có bộ tranh thờ từ 7 đến 12 tờ mô tả vũ trụ quan, đất, nước, lửa, gió tạo nên vạn vật, trong đó con người là chủ thể. Con người luôn đấu tranh với cái ác, để giành lấy cái thiện. Họa tiết sinh động...thủ pháp nghệ thuật theo mô típ tả thật, màu sắc dân gian theo trường phái tranh hàng trống của người Kinh.

Nghề thêu thổ cẩm, trạm khắc trên gốm, đục đá vẫn được duy trì. Nghề làm hương, dệt vải nhuộm vải được phụ nữ yêu thích.

Sinh hoạt ẩm thực của người Nùng giản đơn nhưng khéo léo. Những thức ăn được chế biến từ nông sản phổ thông như gạo, ngô, sắn, rau trồng, rau rừng, thịt, cá nuôi được. Rượu được nấu từ chõ tự làm lấy, nguyên liệu sắn, gạo, men rượu được chế ra từ thảo mộc tự nhiên và bột gạo nếp. Những thức ăn ngày lễ tết được chế biến cầu kỳ như cá nướng, xôi đỏ, xôi tím...

Sống hòa nhập trong cộng đồng các dân tộc ở Yên Bái, người Nùng sống chân thực, giàu chất lao động sáng tạo, bảo lưu được truyền thống văn hóa của mình.

Văn hóa người Nùng đã góp phần tô điểm thêm cho bức tranh văn hóa các dân tộc Yên Bái, đậm đà bản sắc, giàu chất trữ tình. Các thế hệ người Nùng giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Từ khi có Đảng, thanh niên tri thức trong dân tộc Nùng đã sớm giác ngộ cách mạng, theo Đảng, theo Bác Hồ tìm đường cứu nước, nhiều gia đình nuôi giấu cán bộ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược.
 Tác giả| Đăng lúc 5-3-2010 01:13 PM | Xem tất
DÂN TỘC SÁN CHAY



Người Cao Lan ở Yên Bái hiện có khoảng 7.000 người sinh sống tập trung tại 8 đơn vị hành chính của huyện Yên Bình là: Tân Hương, Vĩnh Kiên, Bạch Hà, Vũ Linh, Phúc An, Xuân Lai, Đại Đồng và thị trấn Yên Bình, 2 xã thuộc huyện Trấn Yên là Hòa Cuông, Minh Quán và các xã Yên Phú, Yên Hợp thuộc huyện Văn Yên.

Người Cao Lan ở Yên Bái còn gọi Sán Chay, ngoài ra đồng bào còn có tên gọi khác như: Sán Chởi, Sán Chấy, Sán Chí, Sán Chỉ. Tên chính thức mang tính Nhà nước là Sán Chay. Về nguồn gốc tên gọi nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học trong nước đã đề cập đến và cũng có những hội nghị mời đại diện hai tộc người này đến để thống nhất. Họ đều tự nhận là cùng một dân tộc “Hờn San Cháy, hoặc San Chí” nghĩa là: Người núi (Sơn tử). Theo biến âm của thổ ngữ khác nhau, Sán Chấy, Sán Chới, Sán Chí, Sán Chỉ, Sán Chay đều có một nghĩa là: Người núi (Sơn tử).

Người Sán Chay ở Yên Bái thuộc nhóm Cao Lan nói ngôn ngữ Tày – Thái (người Sán Chay có 2 nhóm với 2 tên gọi khác nhau: Nhóm Cao Lan nói ngôn ngữ Tày-Thái, nhóm Sán Chỉ nói ngôn ngữ Hán (Quảng Đông – Trung Quốc). Người Sán Chay ở Yên Bái thường gọi theo tên Cao Lan.

Người Cao Lan ở Yên Bái vốn là cư dân nông nghiệp làm ruộng nước thành thạo. Nhưng nương rẫy vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống. Với kinh nghiệm phong phú và sự cần cù, sáng tạo trong lao động, được sự quan tâm, đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, đồng bào Cao Lan tích cực tăng gia sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi. Mấy năm gần đây, một số hộ đã phát triển làm trang trại theo mô hình VACR (vườn, ao, chuồng, rừng). Bên cạnh nguồn lương thực chính là cây lúa, đồng bào còn chăn nuôi bò, lợn, gà, thả cá...giúp cho công việc đồng áng và cải thiện đời sống. Phát triển mạnh trồng rừng, trồng các loại cây công nghiệp như quế, chè, sắn...

Là một dân tộc sớm tiếp thu nền văn minh cây lúa nước, đồng bào thường chọn những nơi có địa thế thấp, có thung lũng bằng để khai khẩn đất hoang thành ruộng bậc thang gieo trồng cây lúa. Bên cạnh cánh đồng là đồi núi thấp để phát nương làm rẫy trồng ngô, lúa cạn, rau quả, bông dệt vải...kết hợp với săn bắt thú rừng, hái rau lượm quả. Hiện nay vẫn còn những bản làng Cao Lan vừa có những cánh đồng nhỏ vừa có nương rẫy trên đồi. Trước đây chỉ làm ruộng nương một vụ mùa, sau làm hai vụ lúa ruộng nhưng một số nơi hiện nay đã thâm canh tới 3 vụ lương thực. Với hai hình thức định canh và du canh nên đồng bào có các loại nông cụ thích hợp.

Người Cao Lan ở nhà sàn bốn mái có sàn trong nhà và sàn phơi. Nhà ba hoặc năm gian, được phân định chức năng sinh hoạt của từng gian. Gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên, hai gian cạnh là nơi nghỉ ngủ phân biệt giữa các thành viên nam nữ trong gia đình. Gian trái đầu nhà là nơi đặt bàn thờ hương hỏa (thần Bảo gia trong dòng họ). Gian chái cuối nhà là nơi bếp núc, buồng con dâu hoặc con gái. Cầu thang được bắc lên ở gian này.

Cấu trúc nhà thường thêm một ngôi nhà phụ bố trí theo kiểu thước thợ gắn liền với nhà chính. Dưới sàn là nơi nhốt súc vật trâu, bò, lợn, gà, trên là nơi để lương thực và những đồ vật khác. Quanh nhà thường có mảnh vườn nhỏ trồng rau. Nơi thuận lợi có ao cá và trồng các loại cây ăn quả.

Về nơi ăn ở, người Cao Lan ưa sạch sẽ, ăn chín uống sôi, ở nơi cao ráo thoáng mát. Về mặc, người Cao Lan có kỹ thuật trồng bông dệt vải từ rất sớm. Vào tháng 4, tháng 5, đồng bào trồng bông trên nương, tháng 9, tháng 10 thu bông về kéo sợi dệt vải, nhuộm các màu chàm, nâu, đỏ, vàng để may váy áo. Trang phục của người Cao Lan không thêu thùa nhiều mầu sắc như một số dân tộc khác. Phụ nữ mặc váy tràm dài ngang bọng chân, mặc áo chàm dài ngang váy, về sau nối thành hai phần khác màu. Từ ngang ngực thường là mầu đỏ hoặc nâu, phần dưới xanh chàm hoặc đen. Eo lưng thắt con dao nhỏ có vỏ bao ốp khoét bằng cây thừng mực, dây dao dệt bằng chỉ các màu với những nét hoa văn mềm mại, thể hiện hình sông núi, cỏ cây, thú rừng. Sau lưng đeo thêm cái túi trầu cau nho nhỏ. Cổ và tay đeo vòng bạc, đầu búi tóc sau gáy đội khăn chàm cuốn lật hai dải khăn về phía sau. Khăn áo có thêu họa tiết hoa văn đơn giản trang trí. Ngày lễ hội hoặc ngày đi làm dâu họ thường thắt ngang lưng bằng những dải vải xanh, đỏ, tím vàng như cầu vồng bảy sắc buông xuống dài ngang váy. Chân cuốn xà cạp màu trắng. Nhìn chung kiểu mặc của phụ nữ Cao Lan đơn giản, hài hòa đủ màu sắc thiên nhiên, không giống một dân tộc nào. Nam giới ngày xưa búi tóc đội khăn xếp màu chám có thêu hoa văn, mặc áo chàm dài hoặc ngắn, quần thung màu nâu hoặc trắng. Người Cao Lan theo chế độ phụ hệ trong gia đình người đàn ông giữ vai trò chính chủ, người đàn bà phụ chủ. Khi lập gia đình không có tục ở rể. Trường hợp nhà gái không có con trai thì họ yêu cầu ở rể suốt đời.

Văn hóa tinh thần của người Cao Lan khá phong phú. Tục ngữ có câu: “Mời ăn au đáy, mấy căm đáy” nghĩa là: Có cái lấy được, không cầm được, đó là chỉ văn hóa phi vật thể. Người Cao Lan – Sán Chay có văn hóa riêng, không hòa lẫn với văn hóa dân tộc khác. Song đồng bào vận tiếp thu những nét văn hóa của các dân tộc anh em khác. Đó là sự ảnh hưởng qua lại tất yếu khi họ cùng chung sống trong một cộng đồng.

            Về hệ thống tín ngưỡng, đồng bào theo đạo Phật, đạo Nho và thờ gia tiên. Mỗi dòng họ thờ một thần Bảo gia riêng lấy trong thập bát tú hoặc tứ linh theo quan niệm đạo Phật như họ Trần thờ Ngọc Hoàng, họ Hoàng thờ Nam Hoa, họ Lâm thờ Quan âm Bồ tát, họ lý thờ Huyền Đế vv...cộng với việc thờ thần nước... một số họ còn thờ thần Nông, thần Bếp lửa và thần bà Mụ bảo mệnh cho con trẻ. Họ quan niệm: Thiện nhân nhân phù, ác giả, ác báo, thật thà là cha kẻ gian tà. Trong thờ cúng gia tiên người Cao Lan quan niệm: “Âm dương nhị lộ” nghĩa là hai đường âm dương song hành. Khi cha mẹ già chết, họ phân chia của cải, tiền bạc mang theo, các loại nông cụ sản xuất, vũ khí hộ thân như súng, nỏ, đao, kiếm...và rất chú trọng việc làm nhà cho người chết (làn thai) – nhà của người chết làm bằng nứa non, mái dán bằng giấy màu xanh đỏ, tím vàng hai tầng giống như nhà sàn rồi đem ra mộ đốt. Tục làm nhà cho người chết này rất quan trọng, người Cao Lan quan niệm rằng nếu con cháu không làm nhà cho cha mẹ là thất hiếu. Cha mẹ nơi chín suối không có nhà ở, phải đi lang thang ở nhờ...Do vậy dù giàu hay nghèo họ vẫn cố gắng làm bằng được nhà cho người chết. Khi người chết được đem đi chôn cất thường làm nhà ngay. Tuy nhiên, nếu nhà không có điều kiện kinh tế có thể để về sau, hoặc chờ khi người chồng hoặc vợ chết thì làm nhà một thể cho 2 người.

Tục cưới xin phải trải qua các giai đoạn yêu nhau, ăn hỏi, dạm ngõ và đón dâu. Nhà trai phải lo các đồ xính lễ cưới cho nhà gái và đón cô dâu về ở luôn nhà bố mẹ chồng.

Người Cao Lan không có chữ viết riêng. Song họ sử dụng hệ thống bộ chữ Hán Tự, phần biểu nghĩa, phần biểu âm ghép lại thành chữ nôm Cao Lan, giống như chữ Hán Nôm người Kinh để ghi chép lại thành toàn bộ văn bản của các bộ sách cúng, sách dạy học, các tập sách hát ví dân ca. Trong cộng đồng Cao Lan – Sán Chay chỉ có số ít người am hiểu và đọc được. Thường là con cháu của thầy cúng và đồ đệ của thầy mà đồng bào coi đó là tầng lớp “trí thức” dân tộc. Việc học hành cũng không kém phần gian lao như học phổ thông các cấp. Đội ngũ này đều có phân cấp bậc, trình độ và cấp bằng sắc theo từng bậc học. Cứ 3 bậc là một hàm phẩm gọi là “phắm”. Tam phẩm, ngũ phẩm, thất phẩm và cửu phẩm. Thầy cúng có bằng cửu phẩm là cao tay và có uy tín nhất. Việc công nhận bậc phẩm do hội đồng thầy cúng xem xét. Có khi còn phải thi cử kiểm tra. Người con trai sinh ra đến tuổi 12,14,16 đều phải đặt tên thánh gọi là: “pháp mệnh”.

Về kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian cũng rất phong phú và đa dạng. Chỉ riêng phần hát ví dân gian gọi là “Xình ca” hay “Xướng cọ” đã có tới hàng chục tập sách hát được ghi chép lại bằng chữ Nôm Cao Lan. Mỗi tập sách là một chương trình riêng gọi là “Đêm hát thứ nhất cho đến đêm hát thứ mười mấy”. Họ còn truyền lại là “Slam sớp lộc di xinh mù cồng” ba mươi sáu đêm hát không hết. Những đêm hát này là chương trình hát đối giao duyên nam nữ bắt buộc. Bên nam phải hát dẫn và đọc cho bên nữ hát đối theo. Mỗi đêm hát như vậy thâu đêm đến sáng. Họ thường xen vào những bài hát ướm hỏi giao duyên tùy theo mức độ tình cảm của đôi trai gái. Nếu gặp đôi trai tài, gái giỏi có thể hát ví với nhau vài đêm và hát với nhau nhiều lần đến khi tình yêu chín muồi sau đó báo cáo với cha mẹ xin được làm lễ ăn hỏi và tiến tới tới hôn nhân. Trong thực tế số đôi yêu nhau trong hát ví ít khi được thành vợ chồng, song vẫn đem lòng yêu nhau suốt đời...nên dân tộc này tôn thờ một nữ thánh thơ ca gọi là “Sệch ca làu Slam”. Mỗi cuộc hát ví ngày xuân đều có chương hát “Slệch làu Slam” – thỉnh mời nữ thánh thần nghệ thuật này về chứng giám và nhập hồn vào người sống để có trí thông minh trong đối đáp lời ca.

Người Cao Lan ở Yên Bái đến nay vẫn giữ được một số điệu múa như: Múa xúc tép, múa trống (tang sành), múa chày, múa “ Păng Loòng” (cơm mới). Điệu múa “xúc tép” đã đi tham dự liên hoan ca múa nhạc dân tộc toàn quốc và giành huy chương Bạc.
 Tác giả| Đăng lúc 5-3-2010 01:13 PM | Xem tất
DÂN TỘC KHƠ MÚ

            Người Khơ Mú ở tỉnh Yên Bái có rất ít, khoảng 1.100 người sinh sống tập trung tại xã Nghĩa Sơn – huyện Văn Chấn, chiếm 97% dân số toàn xã và một bộ phận nhỏ cư trú tại xã giáp danh Túc Đán của huyện Trạm Tấu. Đây cũng là 2 xã duy nhất có người Khơ Mú sinh sống ở Yên Bái. Đồng bào Khơ Mú sống tại các bản: Noong Khoang, Lọng Pá Te, Nậm Tộc 1, Nậm Tộc 2.

            Ngoài tên gọi Khơ Mú, đồng bào còn có tên gọi Xá Cẩu hay người Xá, ở những nơi khác, người Khơ Mú còn có tên gọi khác là Pu Thênh, Tày Hạy, Tềnh.... Người Khơ Mú có tiếng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me (thuộc dòng ngôn ngữ Nam Á).

            Theo các nhà nghiên cứu, người Khơ Mú di cư từ Lào đến Việt Nam khoảng trên 100 năm. Các cụ già ở xã Nghĩa Sơn kể lại người Khơ Mú từ Lào đến Sơn La, Lai Châu rồi tới xã Nghĩa Sơn – huyện Văn Chấn – tỉnh Yên Bái.

                                 

                                                         Múa cầu mùa của dân tộc Khơ mú

          Địa hình cư trú người Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn chủ yếu là núi cao, đất dốc, ít có nơi phù hợp để khai phá làm ruộng nước. Nền kinh tế chính của người Khơ Mú nơi đây là kinh tế nương rẫy, đồng bào sống chủ yếu bằng nương rẫy, mới khai phá và trồng thêm lúa nước từ năm 1960 trở lại đây. Mặc dù diện tích trồng lúa nương nhiều gấp 5 lần diện tích lúa nước, song năng suất lúa nương lại thấp hơn: bình quân chỉ đạt 8 - 9 tạ/ha và chỉ làm được 1 vụ lúa/năm. Lúa nước làm 2 vụ, năng suất trung bình 4 tấn/ha.

Ngoài nguồn thu từ cây lúa, đồng bào Khơ Mú còn trồng các hoa màu khác như ngô, sắn nhưng sắn vẫn là cây chủ lực, trồng các loại cây công nghiệp như cây chè, quế nhưng quế mới chỉ là cây thử nghiệm. Là dân tộc có ít người, cuộc sống còn nhiều khó khăn, đồng bào Khơ Mú ở xã Nghĩa sơn được hỗ trợ về con vật nuôi và giống cây trồng. Hiện nay, đồng bào đã trồng thêm được một số loại cây ăn quả, trong đó, cây mận phát triển tốt nhất. Chăn nuôi trâu, bò, lợn cũng được chú trọng tại đây.

            Dân tộc Khơ Mú gắn bó với nương rẫy, khác với văn minh lúa nước của người Thái nên có câu “Người Thái ăn theo nước, người Xá ăn theo lửa”. Từ kinh tế nương rẫy truyền thống mà dân tộc Khơ Mú đã đúc kết cho mình kinh nghiệm sản xuất canh tác, dựa vào trời mây, con vật di chuyển để đoán biết thời tiết để trồng lúa nương, lúa nếp, lúa tẻ, trồng ngô, khoai, sắn, bầu bí. Phương tiện làm nương là rìu, dao, cuốc, xẻng. Phương tiện tra hạt là gậy gỗ đặc để chọc lỗ bỏ hạt. Ngoài trồng trọt, đồng bào chăn nuôi  trâu, lợn, gà để phục vụ đời sống và nghi lễ. Do canh tác nương rẫy nên nghề đan lát nhất là đan các dụng cụ gùi, thồ, chứa đựng rất phát triển và trở thành nghề truyền thống, ngoài phục vụ trong sinh hoạt gia đình, đồng bào còn đem các sản phẩm này xuống chợ vùng thấp đổi cho người Thái, Mường lấy vải vóc, quần áo, trang sức cá nhân. Trong các vật đan nát thì Eng là phương tiện vận chuyển thông dụng, tiện lợi được đan rất cầu kỳ. Eng tựa như chiếc gùi của người Hmông nhưng miệng lại có quai to, giữa quai là mảnh vải đệm, vắt qua trán người, tạo nên điểm tựa lưng và trán, làm cân đối giữa lực cơ thể và trọng lượng hàng hóa trên Eng.

            Trang phục của người Khơ Mú Yên Bái chịu ảnh hưởng nhiều trang phục của người Thái Đen. Khăn phiêu, áo cỏm đen, xài ẻo, váy bằng vải đen, hàng mắc pém hình khối chữ nhật đối diện. Riêng ngực áo Cỏm, dọc hai bên mắc pém có bộ giải hình mặt trời tròn và hình mặt trời khuyết, ở giữa giải có đính những đồng tiền bạc thể hiện sự mong ước giàu sang phồn thịnh luôn được vị thần mặt trời sưởi ấm, che chở. Khăn Piêu gần giống như khăn Piêu Thái, khác là đầu khăn có khâu những đường viền xanh đỏ. Khi đội các cô gái Thái vắt khăn lên đầu, còn thiếu nữ Khơ Mú lại quấn khăn quanh đầu và luồn một đầu khăn qua vành quấn, vắt ra ngoài.

            Người Khơ Mú ở nhà sàn, thường làm ba gian trên diện tích đất không cần rộng lớn, bằng phẳng, vật liệu làm nhà trước đây của đồng bào chủ yếu là tre nứa và cỏ gianh, ngày nay nhà ở của người Khơ Mú nơi đây đã kiên cố. Điều đáng chú ý nhất là trong nhà có ba chiếc bếp, bếp ở gian thứ hai nấu nướng thông thường, bếp giáp hàng cột cái của vì cột thứ ba để đặt lễ thờ cúng, gọi là bếp cúng và bếp trong cùng chỉ để xôi cơm biểu thị sự no đủ sung túc. Khách lạ không nên đến hai bếp này vì theo quan niệm của đồng bào, dễ đem điều rủi ro đến cho chủ nhà.

            Vết tích tô tem giáo còn thể hiện khá rõ nét ở người Khơ Mú. Dòng họ của người Khơ Mú đều mang tên một loài vật hoặc cỏ cây, cả dòng họ phải kiêng ăn loài đó. Ví dụ họ Lèo ăn kiêng thịt con Cầy hương, họ Lường kiêng ăn lá rau rớn, họ Vì  kiêng ăn chim chích chòe, họ Mè kiêng ăn con chim ri, họ Hoàng kiêng ăn thịt hổ, mèo, cáo. Các thế hệ dòng họ đều nhớ về lai lịch tổ tiên của họ mình và cùng nhau ra sức bảo vệ giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của dòng tộc.

Quan hệ hôn nhân được chú trọng. Khi hai bên cha mẹ bằng lòng gả con cho nhau thì đôi trai gái được tự mình quyết định cuối cùng. Nếu đôi lứa không tự nguyện thì cha mẹ, dòng họ cũng không ép buộc. Nhờ vậy gia đình trẻ Khơ Mú sống gắn bó hạnh phúc, không mấy khi xảy ra bất hòa. Lễ cưới hỏi thường diễn ra qua các bước: Tìm hiểu (dụm); dạm hỏi (Manh căm brạ); đưa rể về nhà vợ (Vécsrông gút căm brạ); nộp lễ vật (Mang Kmul kha rua); tổ chức lễ cưới (Su ghê su căm brạ hay cươi căm brạ); đưa dâu về nhà chồng (gát găng ghê); đưa rể lại mặt nhà vợ (gai hấp êm). Sau lễ cưới, chú rể ở một hai năm rồi tách thành gia đình riêng hay tiếp tục ở chung với gia đình bố mẹ bên vợ hoặc bên chồng tùy theo hoàn cảnh cụ thể và sự thỏa thuận. Trong hôn nhân và xây dựng cuộc sống của gia đình trẻ, người cậu ruột thịt trong họ có tiếng nói rất thuyết phục, thậm chí có vai trò quyết định đối với cuộc sống hôn nhân của các cháu.

Do tập quán sản xuất nương rẫy nên từ nhiều đời nay, đồng bào Khơ Mú nói chung và người Khơ Mú ở Yên Bái nói riêng cho rằng hành động trong đời sống hàng ngày đều do các thế lực siêu nhiên chi phối, do đó, họ dựa vào siêu nhiên để chống lại siêu nhiên. Lực lượng siêu nhiên ấy đồng bào gọi chung là Hrôi (ma), các Hrôi chính là Hrôi lvang (ma trời), Hrôi Plee (ma đất), Hrôi Pru đông (ma nước), Hrôirvát (ma nhà)...Các Hrôi sống hiền lành cùng con người, nhưng khi con người làm trái ý thì sẽ “phản” lại gây tai họa cho người và vật. Do vậy, một năm người Khơ Mú có khá nhiều thời điểm thực hiện các nghi lễ thờ cúng ma bản (Hrôi cung), ma mường (Hrôi Phrông). Đồng bào cũng rất coi trọng các vật thể có công giúp đỡ con người. Sau mỗi vụ thu lúa nương, gia đình làm lễ “đón mẹ lúa” (Grơ mạ ngọ) bao giờ cũng làm thủ tục tạ ơn con trâu, cái rìu, cái cuốc, con dao...trước khi gia đình ngồi vào mâm cơm cỗ.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khơ Mú khá độc đáo, bàn thờ tổ tiên của người Khơ Mú là một bếp lửa được đặt ở trung tâm gian nhà thứ 2 từ ngoài vào, nơi đây có một chiếc cột thông lên mái nhà và trên đó có một dàn tre mà đồng bào quan niệm đó là nơi ngự của tổ tiên mỗi khi gia đình có việc hệ trọng cúng mời tổ tiên về dự cùng. Nghi thức cúng rượu cần cho tổ tiên là một nghi thức đặc biệt quan trọng và rượu cần chỉ được làm để cúng tổ tiên vào các dịp như cưới xin, làm nhà mới và các lễ nghị đặc biệt quan trọng trong năm của gia đình.

Người Khơ Mú có tục lệ khi gia đình có người chết thì con rể hay cháu rể có hiểu biết, có uy tín sẽ chủ trì tang lễ. Lễ tang người Khơ Mú mang những nét riêng như: Không đánh trống, thổi kèn mà thỉnh thoảng gõ một tiếng chiêng, khi đưa tang lấy tro bếp rắc sau quan tài để xua đuổi ma xấu.

        Dân tộc Khơ Mú trước cách mạng tháng Tám sống rất khổ sở, suốt đời chỉ đi làm phu phen, nô dịch cho bọn phìa, tạo, thống lý của các dân tộc khác. Sau cách mạng, đồng bào mới được tự do làm ăn, không bị áp bức, bóc lột. Nghe theo Đảng, người Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn đã chuyển xuống sống tập trung định canh, định cư nên đời sống đã ổn định và có bước phát triển. Có truyền thống yêu nước nồng nàn, trong những năm tháng đánh giặc cứu nước, đồng bào Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn đã thành lập đội du kích thu hút nhiều người tham gia, bảo vệ làng bản; thành lập tổ liên lạc đưa đón cán bộ, bộ đội vào vùng địch tạm chiếm và ra vùng tự do an toàn; xây dựng cơ sở cách mạng trong làng nuôi giấu cán bộ, thương binh. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xã Nghĩa Sơn đã nhiều lần tiễn những người con ưu tú lên đường ra trận và lập được nhiều chiến công.
 Tác giả| Đăng lúc 5-3-2010 01:14 PM | Xem tất
DÂN TỘC PHÙ LÁ



Dân tộc Phù Lá Yên Bái có hơn 600 người sống tập trung ở hai thôn: Thôn Lẫu và thôn Nhầy thuộc xã Châu Quế Thượng, huyện Văn Yên, số ít sống ở các huyện Văn Chấn, Yên Bình và thị xã Yên Bái.

Người Phù Lá bao gồm một số nhóm địa phương. Nhóm Phù Lá ở Yên Bái có tên gọi là Xá Phó, ngoài ra đồng bảo còn thường gọi là Lâpvaxơ. Ngôn ngữ đồng bào Xá Phó sử dụng thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miễn (trong dòng ngữ hệ Hán – Tạng), có tiếng nói riêng, song không có chữ viết riêng.

Nơi cư trú của đồng bào Xá Phó xưa kia ở trên vùng núi cao, xa xôi cách trở, tuy nhiên từ sau những năm 60 với chính sách hạ sơn của Nhà nước, đồng bào Xá Phó ở Yên Bái đã định cư ở những triền núi thấp, gần sông Hồng và phát triển canh tác lúa nước ngoài lúa nương truyền thống. Đại bộ phận người Xá Phó Châu Quế Thượng (huyện Văn Yên) ở nhà sàn. Cách bài trì trong nhà của người Phù Lá cơ bản giống nhau, bàn thờ tổ tiên đặt ở gian giữa nơi nối hai tấm vách, bên cạnh có mở một cửa giả, gọi là “cửa ma”, nơi thờ có cắm vài cái lông gà, một tờ giấy vàng và một gói lá nhỏ giắt trên liếp, cửa này chỉ mở ra khi cúng lễ, đây chính là nơi thờ tổ tiên của đồng bào, vị trí quan trọng nhất trong nhà và là nơi diễn ra lễ cúng tổ tiên chính thức vào dịp tết Nguyên đán. Nhà sàn cửa lên xuống ở hai đầu hồi. Nhà đất mở ở chính gian giữa. Ngoài nhà ở các gia đình đều đã làm nhà phụ để chứa thóc trên nương rẫy. Phương tiện xay giã hiện nay vẫn còn phổ biến giã bằng tay hoặc bằng cối nước.

Kinh tế truyền thống của người Xá Phó ở Yên Bái là kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, chủ yếu dự vào nương rẫy với phương pháp canh tác thô sơ trọc lỗ tra hạt như một số tộc người thiểu số khác cư trú trong vùng. Từ khi hạ sơn về định cư tại các vùng thấp như hiện nay đồng bào đã chuyển sang canh tác ruộng nước, kết hợp với kinh tế vườn rừng đã từng bước cải thiện đời sống khó khăn trước đây trước đây. Đồng bào cũng phát triển chăn nuôi trâu, bò, ngựa, dê, lợn, gà….Ngoài ra còn phải kể đến việc nuôi cá trong các thùng đấu nhỏ ở gầm sàn, ở ao và ruộng nước.



Các nghề phụ gia đình ở đồng bào Xá Phó cũng khá phát triển. Đáng chú ý hơn là nghề đan lát  bằng mây tre, trúc, các đồ đựng quần áo, thức ăn….với nhiều loại, tạo dáng hoa văn mầu sắc sặc sỡ được đồng dụng trong gia đình, còn được mang trao đổi mua bán. Đàn ông người Xá Phó rất giỏi làm nỏ và bắn nỏ, nhất là kỹ thuật sản xuất và sử dụng tên tẩm thuốc độc để săn bắt thú lớn. Phụ nữ lo việc trồng bông dệt vải, tự túc trang bị vải mặc cho gia đình. Trong các khâu đoạn dệt họ không dùng sa quay sợi mà dùng tay kéo con trượt. Dụng cụ sản xuất là cày, cuốc, dao tay, dao phát nương…

Về văn hóa ẩm thực: Cơm tẻ là lương thực chính trong bữa ăn, gạo nếp thì nấu hoặc đồ xôi. Ngoài ra còn có ngô, khoai, sắn và các loại củ như: Khoai sọ, củ mài, củ từ…Trong tiếp khách cũng như trong sinh hoạt thường ngày, đồng bào thích ăn các loại cá, các loại rau quả bầu, bí, ớt giã với các loại rau thơm, quả bùi. Thịt muông thú săn được, người ta sấy khô để dành thức ăn cho ngày mùa. Người Xá Phó có ý thức tương trợ lẫn nhau, từ việc phát nương, tra lúa, làm nhà ở, đến ma chay, cưới xin, nhà nào cũng có việc thì cả làng đến giúp.

Về trang phục của người Xá Phó ở Yên Bái,trước đây đàn ông thường để búi tóc trên đỉnh đầu và thường búi khăn. Trang phục của người phụ nữ đáng chú ý là áo chui đầu cổ vuông, áo ngắn, không che kín cạp váy nên có thêm dải thắt ngoài cạp, cổ áo, tay áo, thân áo, đều cắt thẳng không có đường lượn phần dưới và vạt áo đều thêu các hoa văn hình quả trám, hình vuông, hình tam giác và những hình gấp khúc được bố trí nhắc đi nhắc lại. Phần trên đính hạt cườm thành những đường thẳng song song kẻ xuống ngực và lưng. Thắt lưng của người phụ nữ được trang trí bằng toàn bộ vỏ ốc núi. Chiếc váy đều may kín phần cạp nhỏ hơn gấu, gấu váy được thêu nhiều đường hoa văn với nhiều kiểu loại.



Trang phục của nam giới Xá Phó nổi bật là chiếc áo xòe ngực, không có cổ riêng, thân áo được đính nhiều hạt cườm thành những hình chữ thập. Xưa kia phụ nữ Xá Phó thường nhuộm răng bằng cánh kiến đỏ, họ coi đó là một yếu tố thẩm mỹ.

Thiết chế xã hội người Xá Phó trong xã hội phong kiến là chế độ phụ quyền, căn cứ vào quan hệ truyền thống xa hay gần mà định trên dưới, theo một thứ tự tôn ty rất nghiêm ngặt.

Về họ tộc : Tộc biểu thị quan hệ than thuộc của gia đình, mỗi người chịu sự chi phối của hai hệ thống tộc: Cửu tộc (chính họ) và Tam tộc (ba họ). Cửu tộc là chính thế hệ, lấy một người làm chuẩn  thì trên là cha (phụ), trên cha là ông (tổ), trên ông là cụ (bằng tổ), trên cụ kị hoặc cố (cao bằng tổ), dưới chắt là chút (tằng tăng tôn). Lấy huyết thống làm nguyên tắc người cùng họ không được lấy nhau, ai phạm điều cấm kỵ ấy đều khép vào tội loạn luân. Trước đây người Xá Phó có tục khi anh trai chết thì em trai phải lấy chị dâu làm vợ, trừ trường hợp chênh lệch tuổi tác quá lớn. Trong gia đình ngôi trưởng đích hệ là rất quan trọng, lấn áp hàng thu. Quyền của người cha đối với con là tuyệt đối, con đối với cha phải ăn ở hết đạo hiếu.

Hôn nhân của người Xá Phó, xưa kia hoàn toàn do cha mẹ quyết định. Ngày nay, trai gái Xá Phó ở Yên Bái được tự do tìm hiểu, con trai đến nhà con gái thổi kèn môi làm hiệu, người con gái mở cửa cho vào nói chuyện. Khi đôi trai gái thỏa thuận họ thưa với bố mẹ.

Tục cưới xin gồm nhiều nghi lễ phức tạp (Tùy theo từng nhóm mà nghi lễ riêng). Thông thường phải qua mấy bước: Lễ đánh trống, lễ rạm hỏi, lễ ăn hỏi chính thức và lễ cưới. Nét đặc trưng nhất trong hôn nhân là tục buộc chỉ trắng cổ tay cho cô dâu, chủ rể và người dẫn đường (phù dâu, phù rể). Đứa trẻ khi mới sinh được bà đỡ và bố cầu mong cho mọi sự tốt lành. Ngày đặt tên do bố mẹ chồng buộc chỉ cho con dâu. Tục mà chay của người Xá Phó ở Yên Bái có những nét rất riêng biệt. Mộ đã chôn rồi người thân tuyệt đối không được đến. Bàn thờ là một tấm vách nhỏ cài đặt chính giữa vách cua gian giữa nhà (thẳng nơi đặt bếp). Các lễ cúng đặt mâm trước tấm cửa này và chỉ khi nào đó có người chết đột ngột, chết trẻ thì mới làm lễ mở của đuổi ma, đồng bào đưa tiễn người quá cố theo nghi lễ dân tộc trang trọng. Sau 12 ngày kể từ ngày mai táng gia đình quá cố làm lễ sửa mộ, người Xá Phó không có lễ bốc mộ, mỗi gia đình đều có một bếp chính đặt thẳng cửa ma. Mỗi khi cúng tổ tiên thì cúng bếp, bếp được đặt khi dựng nhà mới.

Về nhạc cụ tiêu biểu là trống, trống được bưng bằng gia thú, có nhiều loại trống : trống đại, trung, tiểu. Trống đại hay dùng trong lễ hội, trong việc liên lạc bằng âm thanh của mỗi gia đình. Khi lên nương chỉ cần nghe tiếng trống là có thể biết được trống của nhà ai? Báo hiệu điều gì?...

Các loại nhạc cụ khá phổ biến là bộ hơi gồm: Khèn bầu (ma nhí) và các loại tiêu, sáo… Đặc biệt là sáo cúc kẹ (sáo mũi). Do sống trên những triền núi cao nên âm nhạc và các điệu múa cũng từ đó mà có cung, quãng hep. Khuân múa chủ yếu là khuân múa vòng tròn bước đi nhẹ nhàng, theo tiết tấu pha tạp của người Tày, Thái… “ Sập sập, xòe” được nhắc đi nhắc lại mô phỏng nhiều lần. Ca hát có hát sinh hoạt, hát ru con, ru em, hát giao duyên, hát mừng đám cưới, mừng được mùa.

Văn học dân gian, chuyện cổ, tục ngữ ca dao của người Xá Phó phản ánh tâm tư, tình cảm của người lao động, ca ngợi tình yêu chung thủy, ca ngợi tài năng trí tuệ của nhân dân.

            Kho tàng văn hóa dân gian của người Phù Lá (nói chung), của người Xá Phó ở Yên Bái (nói riêng) bên cạnh những yếu tố tiếp thu của các dân tộc khác vẫn bảo lưu những nét riêng của bản sắc dân tộc.

            Người Xá Phó có truyền thống đoàn kết gắn bó chặt chẽ với quê hương, đất nước. Từ kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến ngày nay nhiều thanh niên đã tình nguyện lên đường bảo vệ Tổ quốc. Qua các cuộc kháng chiến đã có 4 liệt sỹ, 3 thương binh và được thưởng hơn 50 huân huy chương các loại.

Dân tộc Xá Phó là dân tộc có ít người, đồng bào đã vượt qua rất nhiều khó nhăn để xây dựng thôn bản của mình tiến bộ, lành mạnh, góp sức mình cùng các dân tộc ở Yên  Bái thực hiện xóa đói,  giảm nghèo, cuộc sống ngày càng phát triển
Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký

Quy tắc điểm

Hosting chuyên nghiệp by VTHOST.
Truyen tai iWIN | , > Quảng cáo liên hệ admin@traitimyenbai.net

Phòng tối|Lưu trữ|Diễn đàn Yên Bái Community Guidelines |

GMT+7, 23-10-2014 10:33 AM , Processed in 0.136881 second(s), 24 queries .

Powered by Discuz! X3.2

© 2001-2013 Comsenz Inc.

Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách