Xem: 6690|Trả lời: 0
Thu gọn cột thông tin

THỰC DÂN PHÁP NỔ SÚNG XÂM LƯỢC NƯỚC TA 1858

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 14-11-2010 08:38 AM | Xem tất |Chế độ đọc

Mời bạn đăng ký để giao lưu kết bạn nhé <3

Bạn phải đăng nhập để xem được nội dung, nếu bạn chưa có tài khoản? hãy Đăng ký

x
THỰC DÂN PHÁP NỔ SÚNG XÂM LƯỢC VIỆT NAM
Tiếng súng kháng chiến của dân tộc ta bắt đầu từ mặt trận Đà Nẵng, rạng sáng ngày 1- 9- 1858. Thực dân Pháp chọn Đà Nẵng làm địa điểm tấn công đầu tiên vì Đà Nẵng có vị trí quân sự quan trọng, hải cảng rộng và sâu, thuận tiện cho tàu chiến triển khai. Hơn nữa Đà Nẵng là cổ họng của Huế, nếu chiếm được Đà Nẵng, người Pháp có khả năng chiếm ngay kinh thành Huế, sớm kết thúc chiến tranh.
  Kế hoạch xâm lược Việt Nam được thông qua từ tháng 4- 1857 và đến khi cuộc can thiệp của Pháp ở vùng biển Trung Hoa tạm ngưng với hiệp ước Thiên Tân lần thứ nhất ngày 27- 6- 1858, hạm đội pháp lập tức quay mũi về phía Đà Nẵng. Với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, triều đình Huế đã cho tăng cường phòng thủ các nơi trọng yếu như trên sông Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà được đắp thêm hai đồn lũy kiên cố, đèo Hải Vân cũng được xây thêm các đồn phòng thủ, có sẵn đá hộc chặn giặc. Quân số trên các đồn chính ở Đà Nẵng có lúc lên tới gần 5000, trang bị thêm đại bác mới.
Rạng sáng 1- 9- 1858, không chờ quân triều đình trả lời tối hậu thư, quân Pháp đã nổ súng vào các đồn Điện Hải, Điện An và bán đảo Sơn Trà. Do vũ khí lạc hậu và không được luyện tập thường xuyên nên không thể ngăn được quân Pháp đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà.
Mất bán đảo Sơn Trà, triều đình Huế đã cử Nguyễn Tri Phương làm tổng chỉ huy mặt trận Quãng Nam chống Pháp. Nguyễn Tri Phương đã tiến hành một số biện pháp như cho đắp lũy chạy dài từ bờ biển vào phía trong để bao vây địch ngoài mé biển, thực hiện vườn không nhà trống. Kết quả là liên quân Pháp- Tây Ban Nha không thể đánh sâu vào nội địa. Sau 5 tháng chiến tranh chúng hầu như không thu được kết quả mà khó khăn lại ngày một tăng thêm, về điều kiện thời tiết, lương thực, thuốc men đều bất lợi. Cuối cùng, R.Giơnuiy quyết định chuyển hướng, chỉ để lại một lực lượng nhỏ ở bán đảo Sơn Trà còn đại quân thì tiến vào Nam Kỳ trước tiên là hướng Gia Định với lý do: Nam Kỳ là vựa lúa gạo của cả nước, lực lượng quân chính quy của triều đình mỏng, có thể chiếm được Cao Miên ngược sông Mê Kông lên Vân Nam Trung Quốc lại ít gặp sự phản ứng của nhà Thanh……
Ngày 9- 2- 1859, quân giặc đã tới Vũng Tàu. Từ 19- 2 chúng bắt đầu tấn công dọc sông Cần Giờ vào Gia Định. Chỉ trong 2 ngày Giơnuiy đã chiếm được thành Gia Định. Thành mất, Trấn thủ Vũ Duy Ninh, Án sát Lê Từ đều tự tử, một số chạy về Vĩnh Long.
Tuy chiếm được Gia Định, nhưng với lực lượng có hạn, Giơnuiy không thể đánh rộng ra ngay được. Tự Đức một mặt hô hào lập các đội nghĩa dũng tại chỗ, mặt khác lại cử tướng Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp vào Gia Định làm thống chế mặt trận Gia Định. Do bị vây hãm nên Pháp đã dùng thuốc nổ phá thành rồi đại quân rút xuống tàu chiến đậu trên sông để tránh bị quân ta đột kích.
Từ tháng 5 đến tháng 8- 1859, quân Pháp cực kỳ lúng túng, lại bị sa lầy ở Đà Nẵng một lần nữa nhưng chính lúc này trong triều lại có sự phân hóa. Tư tưởng sợ giặc “ chủ hòa” bắt đầu lan ra làm phân tán lòng người. Tháng 2- 1859, Đô đốc Pagiơ được cử thay Giơnuiy. Nước Pháp đang sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược Xyri, Pháp đành phải rút chạy hoàn toàn khỏi Đà Nẵng, ngày 23- 3- 1860. Đà Nẵng được giải phóng sau 1 năm 6 tháng 22 ngày bị giặc chiếm. Từ đó, cơ hội hất quân địch ra khỏi Gia Định cũng là rất lớn, nhưng quân ta vẫn nằm trong phòng tuyến Chí Hòa mới xây dựng, trong tư thế thủ hiểm.
Ngày 25- 10- 1860, hiệp ước Bắc Kinh được kí kết , quân Pháp rảnh tay hơn trong vấn đề Nam Kỳ. Tháng 2- 1861, đô đốc Sácne tới Nam Kỳ, đêm 23- 2- 1861, Sácne đánh thẳng vào phòng tuyến Chí Hòa. Phòng tuyến Chí Hòa bị san phẳng, quân ta tổn thất nặng nề. Quân Pháp lấn tới, mở cuộc hành quân đẩm máu dọc sông Bảo Định, lần lược chiếm được Định Tường (12- 4), Biên Hòa (18- 12) và thành Vĩnh Long ( 23- 3- 1862). Ngày 25- 6- 1862 Bôna  sang thay Sácne, thay mặt chính phủ Pháp, tuyên bố lập ra chế độ soái phủ ở Nam Kỳ, đánh dấu bước mở đầu chế độ thuộc địa ở đây.
Từ những thất bại liên tiếp và thái độ lưỡng lự của triều đình Huế, Pháp đã khôn ngoan chớp lấy cơ hội buộc triều đình Huế kí hiệp ước Nhâm Tuất ngày 5- 6- 1862.
Hiệp ước Nhâm Tuất và các điều khoản trong văn bản ngày 15- 10- 1867 đã phần nào nói lên sự bất lực của triều đình Huế. Hiệp ước này chứa đựng thêm những điều khoản nặng nề tai hại cho vận mệnh đất nước. Triều đình phải chấp nhận việc nhượng 6 tỉnh cho Pháp cùng với chủ quyền các đảo Côn Lôn và Phú Quốc. Người Pháp sống ở 6 tỉnh đó được quyền tự do đi lại buôn bán ở các hải cảng ở Việt Nam. Người Pháp được tự do truyền đạo ….Pháp và Việt Nam sẽ trao đổi đoàn ngoại giao.
Cái thâm độc của thực dân pháp còn ở chỗ đã lợi dụng sự không rõ ràng về ngoại giao về pháp lý của chính văn bản ngày 15-10-1867 để có cớ mở đường đánh chiến bắc kỳ. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta trong giai đoạn này là dưới ngọn cờ của triều đình. Ở Đà Nẵng cũng như Gia Định, vua Tự Đức có những quyết định tích cực cho cục diện trên chiến trường như là phái những tướng giỏi tới  Đà Nẵng , bắt giam, giáng chức những tướng vô dụng như là Chu Đức Minh, Trần Hoàng…Sau trận đánh 8-5-1859, Tự Đức đã tăng cường hệ thống đồn lũy từ chân đèo Hải Vân đến Đà Nẵng, tăng thêm 31 khẩu đại bác, súng phun lửa,…
Nổi bật trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến là sự đóng góp của đội dân binh. Những lũy cát trồng tre kéo dài từ Sơn Trà đến An Hải, ra Mỹ Thịnh, Hóa Khê, một tuyến dài khác từ Hải Vân đến Điện Hải,Vũng Thùng qua các đồn lũy kiên cố như Lại Hiên, Liên Trì, Phương Trì… đã chặng đứng bước tiến của quân giặc.
Ở Bắc Kỳ ,cuộc ‘Nam Tiến” đầu tiên trong lịch sử cận đại do Đốc học Nam Định là Phạm Văn Nghị phất cờ. Đội quân của ông gồm 400 người, hành quân bộ 29 ngày vào đến Huế thì quân Pháp đã rút khỏi Đà Nẵng. Ông về lại quê hương xây dựng căn cứ kháng chiến. Đầu năm 1859, đội nghĩa binh của Trần Thiện Chính, Lê Huy và đội quân 2 ngàn người của Dương Bình Tâm đã thắng lớn trong trận đánh ngày 4-7-1859, ở chùa Chợ Rẫy, giết tên quan Bácbê, đốt cháy tàu địch trên sông Đồng Nai.
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Xuân Lâm. Đại Cương LỊCH SỬ VIỆT NAM. tập II. Nxb Giáo Dục.
2. Nguyễn Quang Ngọc. TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM. Nxb Giáo Dục.
3. Trần Trọng Kim. VIỆT NAM SỬ LƯỢC. Nxb Tổng Hợp TP. HCM.
4. Nguyễn Phan Quang. KHỞI NGHĨA TRƯƠNG ĐỊNH. Nxb Trẻ TP> HCM.
5. Phan Ngọc Liên. LỊCH SỬ 11 nâng cao. Nxb Giáo Dục.
6. Trần Văn Giàu. 2001. CHỐNG XÂM LĂNG, LỊCH SỬ VIỆT NAM Từ 1858- 1898. Nxb Giáo Dục.
7. Trang Tin Điện Tử VIOLET.COM.
8. Mạng GOOGLE.COM.
9. Trang wed: www.quansuvn.net
Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký

Quy tắc điểm