Xem: 35312|Trả lời: 0
Thu gọn cột thông tin

CÂU HỎI CÁC CUÔC KHÁNG CHIẾN NHÂN DÂN TA TỪ NĂM 1858 - 1884

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 14-11-2010 09:55 AM | Xem tất |Chế độ đọc

Mời bạn đăng ký để giao lưu kết bạn nhé <3

Bạn phải đăng nhập để xem được nội dung, nếu bạn chưa có tài khoản? hãy Đăng ký

x
Câu 1. Nguyên nhân thất bại của các phong trào kháng chiến chống Pháp ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ ?
TRẢ LỜI:
Nhìn chung các phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta chỉ giành thắng lợi bước đầu, về sau đều bị đàn áp và thất bại. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại là:
Về phía ta:
Các phong trào nỗ ra lẻ tẻ chưa có sự liên kết chặt chẻ với nhau.
Tuy nổ ra mạnh mẻ nhưng các phong trào đấu tranh còn mang tính chất tự phát, chưa có đường lối kháng chiến rõ ràng. Vũ khí chiến đấu còn quá thô sơ và lạc hậu không đủ sức chống chọi với kẻ thù.
Phần lớn nghĩa quân đều xuất thân từ nông dân nên chỉ biết cần cù làm ăn còn việc binh đao thì chưa từng trải qua, không có kỉ năng chiến đấu thiếu kinh nghiệm chiến trường.
Quan trọng là các nghĩa quân không nhận được sự hợp tác tác chiến của quân đội chính quy triều đình mà ngược lại còn bị triều đình bỏ rơi, một bộ phận quan chức triều đình còn tìm cách ngăn trở, phá hoại và đàn áp.
Về phía Pháp:
Thực dân Pháp có thực lực quá mạnh với những vũ khí tác chiến hiện đại như tàu chiến, đại bác. Bên cạnh đó quân đội Pháp có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu.
Khởi nghĩa gặp phải sự đàn áp man rợ của kẻ thù với muôn vàn thủ đoạn và dụ hàng. Hơn nữa chúng còn cài mật thám trong các nghĩa quân để tìm cách ám hại và đàn áp.
Câu 2: Thông qua khởi nghĩa  Giáp Tuất do Trần Tấn và Đặng Như Mai lãnh đạo. Nhận xét về thái độ của nhân dân đối với hành động kí kết hiệp ước của triều đình Nguyễn. Nhân dân có đồng tình hay không ? tại sao ?
TRẢ LỜI:
Với chiến thắng Cầu Giấy 21- 12- 1873 đã làm lay chuyển tình hình. Nhân dân trong cả nước nô nức phấn khởi bao nhiêu thì quân Pháp lo sợ bấy nhiêu. Hơn nữa, với nhiều khó khăn nội bộ cho nên thực dân Pháp mong muốn đi đến kí kết một hòa ước chung.
Trong lúc này, nếu triều đình Huế thừa thắng xông lên thì địch nhất định sẽ bi tiêu diệt và đẩy lùi nhưng với tư tưởng cầu hòa , triều đình Huế đã đi đến quyết định hết sức sai lầm là kí hòa ước Giáp Tuất với những điều khoản hết sức nặng nề và bất lợi cho ta. Thể hiện sự phụ thuộc ngày càng chặt chẽ của triều đình Huế vào bọn thực dân Pháp như thừa nhận chủ quyền của thực dân Pháp ở 6 tỉnh Nam Kỳ, mở một số cửa biển cho Pháp giao lưu buôn bán…..Việc triều đình Huế kí bản hiệp ước Giáp Tuất đả vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ của nhân dân. Đặc biệt là khởi nghĩa Giáp Tuất do Trần Tấn và Đặng Như Mai ..lãnh đạo, nghĩa quân đã đánh chiếm được Hà Tĩnh cùng nhiều nơi khác. Thông qua cuộc khởi nghĩa đã cho thấy thái độ, lập trường vững chắc của nhân dân trước cuộc xâm lăng của thực dân Pháp. Đó là chiến đấu bảo vệ chủ quyền của dân tộc. Nhân dân đã nhận ra rõ bộ mặt tráo trở của Pháp bề ngoài chỉ là bên vực đạo, khai hóa văn minh công giáo…..nhưng thực chất chỉ muốn biến Việt Nam thành thuộc địa của Pháp.
Mặc khác, triều đình Huế trong giai đoạn này đã bước vào tình trạng khủng hoảng, suy tàn. Ngay từ đầu, đa số đã mang nặng tư tưởng cầu hòa, nhận thức mơ hồ về âm mưu xâm lược của thực dân Pháp cho nên đã đi đến sai lầm là kí với Pháp hiệp ước Giáp Tuất.
Từ nhận thức đối lập nhau giữa nhân dân và đa số trong nội bộ triều đình Huế cho nên khi triều đình kí hiệp ước thì  nhân dân đã phản kháng lại mạnh mẽ bằng các phong trào đấu tranh. Tuy nhiên, khi các cuộc khởi nghĩa đang trên đà thắng lợi thì triều đỉnh lại dồn lực lượng dập tắt tàn nhẫn. Từ đó đã làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân với triều đình Huế ngày càng thêm sâu sắc.
Câu 3: Thông qua bài học về các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, so sánh thái độ của nhân dân và thái độ của triều đình?
TRẢ LỜI :
•        Về Phía Triều Đình:
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam đúng vào lúc chế độ phong kiến Việt Nam suy tàn. Nước Việt Nam đã suy yếu về mọi mặt nên không còn khả năng chống đỡ trước sức tấn công của tư bản phương Tây. Vì vậy mà nhà Nguyễn sớm có tư tưởng chủ hòa, sợ giặc. cuối cùng dẫn đến thiếu quyết đoán, chỉ đạo đường lối sai lầm.
Xuất phát từ nhận thức khác nhau, một bộ phận vua quan triều đình có cái nhìn thiển cận: nhận định sai lầm về âm mưu của thực dân Pháp xâm lược Việt Nam nên có tư tưởng nghị hòa. Bên cạnh đó, cũng có một số quan lại nhận thức rất rõ về dã tâm của Pháp nên đã kiên quyết chống giặc đến cùng.
Triều đình nhà Nguyễn không thống nhật được quan điểm nên đã ảnh hưởng đến vấn đề thời cơ.( trong quá trình chống Pháp, ta có rất nhiều cơ hội mà hoàn toàn nắm bắt được để tiêu diệt kẻ thù nhưng triều đình Huế đã không làm được điều này.)
Khi đối mặt với kẻ thù triều đình luôn do dự, không có đường lối kháng chiến rõ rang nên cuối cùng đầu hàng giặc từng bước. Vì thế, nhà Nguyễn không thể phát động một cuộc kháng chiến toàn diện, bỏ qua nhiều cơ hội đánh thắng kẻ thù.
Trước sự tấn công của thực dân Pháp, triều đình đã có sự phân hóa:
        Phái chủ chiến         Phái chủ hòa
Tích cực        Phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.        Trước tình thế Pháp ráo riết xâm lược, họ nhận thấy nếu đối mặt ta sẻ thất bại. Đề ra chính sách cải cách mở cửa.  
Tiêu cực        Không nhận thấy rõ sức mạnh của Pháp.        Có một bộ phận không nhận thức được vai trò sức mạnh của mình. Thấy Pháp mạnh thì muốn hòa => chủ hòa trên sách lược.
Trong khi phong trào chống Pháp của quần chúng nhân dân lên cao, phái chủ hòa( đang chiếm ưu thế trong triều đình) lại đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân gây nên làn sóng bất bình trong nhân dân.=> không phát huy được sức mạnh toàn dân về sau.
Trong khi phái chủ chiến kiên quyết chống giặc thì phái chủ hòa nhiều lần phá hoại, gây khó khăn cho hoạt động của phái chủ chiến.
Về Phía Nhân Dân:
Dân tộc ta sớm có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm nên cuộc xâm lược của thực dân Pháp và sự phản bội của triều đình đã vấp phải những phản ứng quyết liệt của nhân dân. Phe chủ chiến đã tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân mà gây áp lực với Pháp, cản trở phe chủ hòa cấu kết với Pháp.
Thái độ của nhân dân từ khi Pháp nổ súng xâm lược đến khi Pháp mở rộng chiếm đóng đều luôn thống nhất, trước sau như một, cả nước sôi sục phong trào đánh Pháp. Trong lúc triều đình Huế hoang mang dao động kí hàng ước thì phong trào đấu tranh của quần chung vẫn diển ra sôi nổi. Trong năm 1862, phong trào chống Pháp dâng cao hầu hết ở các nơi, nhất là ở các tỉnh Định Tường, Gia Định. Điển hình có các cuộc nổi dậy của Trương Định, Đỗ Trình Thoại, Phạm Văn Đạt,…..
Câu 4. Thất bại chiến trường Đà Nẵng, tại sao Pháp đánh xuống Gia Định và đã gặp phải điều gì ?
Với mong muốn đánh chiếm nhanh Đà Nẵng, rồi sẽ "giáng cho Huế một đòn quyết định", để có thể làm chủ nước Việt; nhưng ý đồ của Liên quân Pháp và Tây Ban Nha đã không thể thực hiện được, vì vấp phải sự kháng cự của quân và dân Việt Nam.
Bị cầm chân ở Đà Nẵng suốt 5 tháng, tướng Charles Rigault de Genouilly (gọi tắt là De Genouilly) buộc phải thay đổi kế hoạch, là rút đi hai phần ba số quân (tức 2.000 người) và 8 trong số 14 chiến thuyền ở mặt trận này để vào đánh chiếm Gia Định.
Âm mưu của địch kéo vào đánh Gia Định nhằm cắt đứt đường tiếp tế bằng cách  đánh chiếm kho lúa gạo của triều đình Huế. Đánh Sài Gòn xong sẽ theo đường sông Cửu Long ngược lên đánh chiếm luôn Cao Miên. Ngoài ra, Pháp cần phải hành động nhanh để tránh sự ảnh hưởng ngày một lớn của Anh.
Theo báo cáo của viên tướng này gửi cho Bộ Hải quân Pháp ở Paris, thì "Sài Gòn nằm trên một con sông mà chiến thuyền của chúng ta dễ vào, và hễ quân lên bộ thì đánh thành ngay, không phải lưng cõng, vai mang, băng đồng mệt nhọc. Sài Gòn lại là một vựa thóc. Nhân dân và binh lính ở kinh thành Huế sống một phần nhờ gạo Sài Gòn. Đến tháng Năm thì thuyền chở thóc gạo, sẽ kéo buồm từ Sài Gòn ra Huế. Chúng tôi quyết chận thóc gạo đó lại...".
Như vậy, việc Pháp chọn mặt trận thứ hai ở Sài Gòn, cũng không nằm ngoài mục đích muốn chiếm đóng và tìm kiếm lợi lộc từ nước Việt. Và nếu không thể “đánh nhanh, thắng nhanh” ở Đà Nẵng được, thì Sài Gòn quả là một địa bàn thuận lợi hơn Hà Nội, bởi ở đây có một hệ thống sông rạch chằng chịt, nhiều sản vật, nhiều của cải và nhiều lúa gạo nhất Việt Nam. Cho nên, De Genouilly mong muốn chiếm lĩnh Sài Gòn để có thể "vừa lập nghiệp, vừa phòng thủ", "vừa hành binh, vừa lưu thông thương mại dễ dàng". Ngoài việc cắt đứt con đường tiếp tế lương thực cho Huế như đã ghi trên, thực dân Pháp sẽ có thêm điều kiện thuận lợi để thực hiện ý đồ làm chủ lưu vực sông Mê Kông, và xa hơn nữa là phía Bắc. Mặc khác, ở Gia Định thì cách xa Trung Hoa có thể hạn chế sự ảnh hưởng và phản ứng của nhà Thanh
Lúc Pháp đến đánh, trong thành Gia Định chỉ có hơn một nghìn quân thủ thành, trong thành có đủ khí giới, lương thực cho mười ngàn quân đóng giữ trong một năm. Điều đó chứng tỏ rằng, triều đình thờ ơ với sự phòng vệ.
Câu 5: Thế kỷ XIX, đất nước rơi vào trình trạng khủng hoảng với chế độ phong kiến tối nát, không chịu đổi mới. Liệu có phải triều đình không có một chính sách nào hay không, để dẫn đến mất nước?
TRẢ LỜI.
Tk XIX, đất nước rơi vào khủng hoảng vì triều đình không chịu đổi mới, điều này là không đúng. Vì trong triều đình ngoài bộ phận quan lại mang tư tưởng bảo thủ, lạc hậu không chịu đổi mới cải cách đất nước thì vẫn còn rất nhiều quan lại có tư tưởng đổi mới và cách tân đất nước. Họ đã gửi các bản đề nghị cải cách lên triều đình để đổi mới các mặt công tác nội trị, ngoại giao kinh tế cũng như văn hóa – xã hội của nhà nước phong kiến cụ thể là: 1868, Trần Đình Túc và Nguyễn Huy Tế xin mỡ cửa biển Trà Lý (Nam Định), Đinh văn Điền xin đẩy mạnh việc khai khẩn ruộng hoang và khai mỏ, phát triển buôn bán với nước ngoài, chấn chỉnh dân phòng. 1872, Viện Thương Bạc xin mở 3 cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Đồ Sơn. Đáng chú ý là của Nguyễn Tường Tộ với các chính sách như chấn chỉnh bộ máy quan lại, phát triển công thương nghiệp và tài chính, chỉnh đốn vỏ bị, mở rộng ngoại giao, cải tổ giáo dục.
Trước ý kiến đó, vua Tự Đức đã phán rằng: “những lời tên Tộ thật đã khám phá sự tình. Nhưng y vốn không phải tộc loại với ta, tình ý chưa tin nhau, vội vàng thi hành e  chưa tiện”. Từ câu nói này, ta có thể thấy được sự cố chấp trì trệ của một bộ phận quan lại triều đình phong kiến Huế nói chung và vua Tự Đức nói riêng. Chính vì vậy mà nước ta đã không thể tránh khỏi việc trở thành thuộc địa của Pháp.
Câu 6: Thái độ của Trương Định khi triều Nguyễn cho Phan Thanh Giản đến dụ hàng ông, nhưng Trương Định đã từ chối lệnh bãi binh của triều đình. Điều đó nói lên quan điểm, tư tưởng gì của ông ?
Trước sự đề kháng mạnh mẽ của nghĩa quân Trương Định, giặc Pháp không kiểm soát được 3 tỉnh miền đông Nam kỳ liền dùng áp lực buộc triều đình Huế bắt Trương Định giải giáp quân đội. Triều đình Huế đã cho Phan Thanh Giản đến dụ hàng ông nhưng không thành. Với áp lực của triều đình và sức mạnh của thực dân Pháp, Trương Định không hề nao núng mà còn “giả lệnh vua mật truyền đi các nơi để cổ động quần chúng đánh Pháp”.
Đối với bọn xâm lượt thì không có bất cứ sự thỏa hiệp nào. Nhận thấy sự bạc nhược của triều đình ông quyết định ly khai khỏi triều đình: “chúng tôi sẽ chống lại triều đình và chắc rằng không có đình chiến và không có hòa bình với triều đình”, “và chúng tôi chống địch, đánh địch và sẽ thắng địch”.
Xếp về hai khía cạnh, ông được triều đình phonng chức nhưng lại kháng lệnh, bị coi là không trung với vua (theo quan điểm của nho giào lúc bấy giờ) nhưng trên khía cạnh ông ở lại cùng nhân dân chiến đấu chống giặc và đã hy sinh thì lại nói lên tinh thần yêu nước của ông, tức là trung với nước, hiếu với dân bởi tình hình lúc bấy giờ không cho phép ông trung thành với vua trong khi vua đầu hàng giặc lại vừa giữ lòng trung hiếu với dân vì thế ông đã ngã về nhân dân và chiến đấu anh dũng. Đây chính là tư tưởng tiến bộ của một chủ tướng, hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ. Trương Định đã đặc vấn đề dân tộc lên trên hết.
Về phía triều đình, tuy buộc Trương Định phải giải giáp quân đội vì sức ép của Pháp nhưng bên trong vẫn ngấm ngầm ủng hộ cuộc khỏi nghĩa của Trương Định và truy phong chức tước khi ông mất. Việc triều đình ngấm ngầm ủng hộ ông cũng phần nào tạo nên động lực cho ông đứng lên kháng chiến.
Câu 7: Trước và sau Hiệp ước Nhâm Tuất, phong trào đấu tranh của nhân dân có gì đặc biệt ?
Trước Hiệp ước Nhâm Tuất: phong trào đấu tranh của nhân dân có sự liên kết với quân đội triều đình. Trong trận Chí Hòa, quân đội chính quy của Nguyễn Tri Phương có sự phối hợp với nghĩa quân của Trương Định..
Sau Hiệp ước Nhâm Tuất: phong trào đấu tranh của nhân dân không có sự liên kết với quân đội triều đình. Bên cạnh việc đàn áp các phong trào đấu tranh của nhân dân thì triều đình vẫn ngấm ngầm ủng hộ phong trào. Sau Hiệp ước, phong trào đấu tranh của nhân dân càng diễn ra sôi nổi và quyết liệt hơn trước. Nhiều khẩu hiệu xuất hiện tiêu biểu nhất như “ Phan- Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”,…. và cũng từ đây, đất nước Việt Nam phần nào đã chịu sự cai quản của Pháp.
Bước đầu thể hiện sự đầu hàng của triều đình vua Tự Đức trước quá trình xâm lược của thực dân Pháp.
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Xuân Lâm. Đại Cương LỊCH SỬ VIỆT NAM. tập II. Nxb Giáo Dục.
2. Nguyễn Quang Ngọc. TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM. Nxb Giáo Dục.
3. Trần Trọng Kim. VIỆT NAM SỬ LƯỢC. Nxb Tổng Hợp TP. HCM.
4. Nguyễn Phan Quang. KHỞI NGHĨA TRƯƠNG ĐỊNH. Nxb Trẻ TP> HCM.
5. Phan Ngọc Liên. LỊCH SỬ 11 nâng cao. Nxb Giáo Dục.
6. Trần Văn Giàu. 2001. CHỐNG XÂM LĂNG, LỊCH SỬ VIỆT NAM Từ 1858- 1898. Nxb Giáo Dục.
7. Trang Tin Điện Tử VIOLET.COM.
8. Mạng GOOGLE.COM.
9. Trang wed: www.quansuvn.net
Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký

Quy tắc điểm

Hosting chuyên nghiệp by VTHOST.
Truyen tai iWIN | , > Quảng cáo liên hệ admin@traitimyenbai.net

Phòng tối|Lưu trữ|Diễn đàn Yên Bái Community Guidelines |

GMT+7, 22-12-2014 10:56 PM , Processed in 0.097697 second(s), 23 queries .

Powered by Discuz! X3.2

© 2001-2013 Comsenz Inc.

Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách